Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà. Danh pháp khoa học là: Canis lupus familiaris. Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi.
Chó chữ Nôm viết là  㹥  hoặc 犾 , 犬 , ... Trong các từ ghép Hán Việt chó được gọi là "cẩu"  ( chữ Hán: 狗 ) hoặc "khuyển" ( 犬 ) . Con chó con được gọi là "cún". Vì chó trông giống con cầy nên chó còn được gọi là "cầy".

Nguồn gốc
Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Vào cuối kỳ Băng hà, cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà.

chó,con chó,loài chó,chó nhà,chó sói,chó cỏ,cẩu,cầy,con cầy,nguồn gốc loài chó,chó Laika,laika,Hachiko,chó Hachiko,chó ngao,chó đá,con chó đá,thành ngữ về chó,chó trong văn hóa tín ngưỡng,Canis lupus familiaris
Hình ảnh về chó

Đặc tính
Thời gian mang thai trung bình của chó kéo dài khoàng 60 đến 62 ngày, có thể sớm hơn hoặc kéo dài đến 65 ngày. Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.

Chó,Khi cơ thể nóng bức, chó thường le lưỡi thở để hạ nhiệt
Khi cơ thể nóng bức, chó thường le lưỡi thở để hạ nhiệt

Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng rất thính, chúng có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất thính như tai. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Não chó rất phát triển. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém,chỉ nhìn thấy 2 màu đen-trắng. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ "hạ nhiệt" trong những ngày oi bức.

Người ta đã tính được rằng: chó 1 năm tuổi tương ứng với người 16 tuổi. Chó 2 tuổi tương ứng với người 24 tuổi, chó 3 năm tuổi - người 30, và sau đó cứ thêm một năm tuổi chó bằng 4 năm tuổi người. Ngày nay, nhu cầu nuôi chó cảnh đang được phát triển nên những giống chó nhỏ như Chihuahua Fox, hoặc chó thông minh như Collie được nhiều người chơi quan tâm đến. Điều này cũng không có gì khó hiểu bởi chó là con vật thủy chung, gần gũi với con người. Chó giúp con người rất nhiều việc như trông nhà cửa, săn bắt, và được coi là con vật trung thành, tình nghĩa với con người.

Lai giống
Chó lai là loài chó vốn được ghép bởi 2 loài chó bố, mẹ khác nhau (về màu sắc, hình dạng,...). Hai con bố, mẹ này sau khi giao phối sẽ tạo ra một giống chó mới mang thuộc tính của bố mẹ.

Tín ngưỡng dân gian
Trong văn hóa tâm linh của một số dân tộc, chó là con vật thân thiết gắn bó thủy chung với người chủ nói riêng và con người nói chung, những đức tính của chó được tôn vinh, thậm chí có nơi chó được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo.

Một miếu thờ chó ở miền Bắc Việt Nam
Một miếu thờ chó ở miền Bắc Việt Nam

Theo một nhà dân tộc học người Nga, tục thờ chó khá phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, và có ở hầu khắp thần thoại các dân tộc ở Đông Nam Á lục địa. Ban đầu tục này xuất phát từ các dân tộc chăn nuôi gia súc khu vực Tây Nam Á, với vai trò canh giữ đàn gia súc. Sau đó có thể người Ấn–Âu từ thời đồng thau đã mang vào Đông Á truyền thống chăn nuôi cùng với tín ngưỡng thờ chó. Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hình tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm chuyển thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ.

Trong nét văn hóa và tâm linh của một số dân tộc, con chó là động vật thân thiết gắn bó từ rất lâu đời với người chủ nói riêng và con người nói chung, những đức tính của chó được tôn vinh như trung thành, thông minh, quan tâm đến chủ... nó là bạn gần gũi của con người, chó canh gác nhà cửa cho con người, thậm chí có nơi chó được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo, Trong văn hóa Á Đông chó được xếp vào 12 con giáp ở vị trí thứ 11 với chi Tuất và một trong những con vật thuộc lục súc. Trong quan niệm của người Việt thì chó là con vật có thể đem đến những điều may mắn, mang đến thuận lợi và nhiều niềm vui (mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang).

Ở rất nhiều nơi trên thế giới, con chó được trân trọng và nâng niu, người ta cũng đặt Các chòm sao được đặt tên chó gồm: Tiểu Khuyển, Đại Khuyển, Lạp Khuyển. Bên cạnh đó chó cũng là đối tượng bị khinh rẻ, coi thường, nó được xem như một con vật bẩn thỉu, ngu dốt và đáng khinh. Người ta hay thóa mạ nhau bằng những câu chửi, tiếng lóng, thuật ngữ, có nhắc đến con chó như: đồ chó, đồ con chó, đồ chó má, đồ chó đẻ, đồ chó săn, thằng chó, chó chết, thằng chó chết, đồ chó cái (ám chỉ gái mại dâm), chó ghẻ, ngu như chó, cẩu nô tài (ám chỉ những kẻ tay sai), tuồng chó lợn, đồ chó vô chủ, đám chó hoang, chó chui gầm chạn....

Tổng quan
Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà. Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà. Khác với lợn, gà, chó được chăm nuôi đơn giản, không tốn công sức và đầu tư. Chỉ bằng cơm thừa canh cặn, con chó vẫn lớn được.

Trong các loài vật thì con chó là loài nổi tiếng trung thành, thông minh và giúp ích cho loài người như biết giữ nhà (chống trộm), thích chơi đùa với trẻ em và nhất là giúp cho những người cô đơn giảm stress, những đặc tính thông minh, con chó còn được dùng để đi săn, chó còn được dùng để khám phá thuốc nổ, ma túy, hay truy tìm những kẻ sát nhân lẩn trốn trong rừng rậm. Đặc biệt trong những trận động đất, thiên tai, sóng thần... con chó được dùng để cứu hộ, tìm kiếm những nạn nhân bị chôn vùi trong đống gạch vụn, on chó còn được dùng để chăn bò, chăn cừu trên những cánh đồng ở miền núi cao. Chỉ cần hai hay ba chú chó là đủ chăn dắt một đàn cừu vài trăm con. Rồi chiều đến, qua tiếng sủa chúng chạy đi gom cừu lại thành đàn. Một con chó đi đầu dẫn đường, các con còn lại ở hai bên hay phía sau lùa đàn cừu về chuồng một cách trật tự.

Tín ngưỡng
Tục thờ chó khá phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, và có ở hầu khắp thần thoại các dân tộc ở Đông Nam Á lục địa. Ban đầu tục này xuất phát từ các dân tộc chăn nuôi gia súc khu vực Tây Nam Á, với vai trò canh giữ đàn gia súc. Sau đó có thể người Ấn–Âu từ thời đồng thau đã mang vào Đông Á truyền thống chăn nuôi cùng với tín ngưỡng thờ chó. Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hình tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm chuyển thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ.

Huyền thoại ở nhiều nước trên thế giới đều có liên quan đến chó như: Thiên khuyển, Cerbère (chó Ngao Xéc-be) và gắn liền với Thần Chết, với âm phủ, với hạ giới, theo đó chó có nhiệm vụ dẫn hồn, dẫn dắt con người trong bóng đêm của cõi chết. Người Mễ Tây Cơ cổ nuôi những con chó chuyên để làm bạn đồng hành và dẫn đường cho những người chết sang thế giới bên kia. Tại Nouvelle - Guinée, nhiều bộ tộc cho rằng con chó đã đánh cắp lửa của chủ nhân đầu tiên là con chuột. Trong quan niệm của người Mường, Gà và Chó đóng vai biểu tượng của Sống (sáng) và Chết (tối) ở hai thế giới đối nghịch nhau trong không gian, đại diện cho các loài sống dưới thấp, trên mặt đất. Ở Nhật Bản, chó là bạn trung thành của người. Trong Đạo Hồi con chó thành hình ảnh của tất cả những gì xấu xa đê tiện nhất trong thế gian, tự đồng hoá mình với con chó ăn xác chết, chó là biểu tượng của sự tham lam, sự phàm ăn.

Địa danh Cư trú của người Metropolitans Bukovinian và chó đốm ở Chernivtsi, Ukraina được xây dựng từ những năm 1864 - 1882 theo thiết kế của kiến trúc sư người Séc Josef Hlávka. Hiện nay, đây là một phần của Đại học Chernivtsi, được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO vào năm 2011. Tài sản là một ví dụ điển hình của kiến ​​trúc lịch sử thế kỷ 19, bao gồm một chủng viện và tu viện và bị chi phối bởi các mái vòm Giáo Đại Chủng viện hình chữ thập cùng một khu vườn và công viên. Khu phức hợp thể hiện ảnh hưởng kiến ​​trúc và văn hóa từ thời kỳ Byzantine trở đi và thể hiện sự hiện diện mạnh mẽ của Giáo Hội Chính Thống trong thời gian cai trị Habsburg, phản ánh chính sách đế quốc Áo-Hung khoan dung đối với tôn giáo.

Ở Trung Quốc, Chó Bắc Kinh được coi là những con chó thiêng liêng, thần thánh mà được kính trọng như theo một truyền thuyết về Thạch sư với khả năng xua đuổi tà ma cho gia chủ. Chúng có thể chỉ được nuôi bởi Hoàng gia Trung Quốc và được tôn trọng như thần thánh và nếu bạn ăn trộm một trong những con chó này bạn sẽ bị hành hình. Những người không thuộc quý tộc phải cúi chào chúng. Khi hoàng đế băng hà, con Bắc Kinh của Người được hi sinh để có thể theo Người bảo vệ Người tại thế giới bên kia. Vào năm 1860, người Anh xâm chiếm Cung điện Hoàng Gia Trung Hoa. Những người lính bảo vệ Hoàng Gia Trung Hoa được yêu cầu thủ tiêu những con chó nhỏ này để bảo vệ chúng khỏi rơi vào bàn tay của những "con quỷ ngoại xâm". Năm con Bắc Kinh đã sống sót và được đưa tới diện kiến Nữ hoàng Victoria. Từ 5 con chó Bắc Kinh đó mà có được giống chó Bắc Kinh ngày nay.

Ở Việt Nam, nhất là miền Bắc, thịt chó được một bộ phận dân cư đặc biệt ưa chuộng. Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy, mộc tồn ("cây còn" nói lái của "con cầy"). Quan niệm người Việt mê tín dị đoan từ trước đến nay vẫn cho rằng: ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng thì sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng đó; nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái "vận đen" đi.

Vật tổ
Người Murut ở bắc Bornéo, chó vừa là tổ phụ huyền thoại vừa là anh hùng khai hoá, là đứa con đầu lòng của quan hệ loạn luân giữa một người đàn ông với em gái duy nhất của mình sống sót sau một cuộc đại hồng thuỷ. Trong tín ngưỡng của người Cơ Tu, con chó chính là vật tổ của họ. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thuỷ tiêu diệt muôn loài, chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Ôi, người Việt… ra đời.

Truyền thuyết về ông tổ chó cũng còn thấy ở nhiều dân tộc khác ở Việt Nam như Xê Đăng, S’tiêng, Giẻ Triêng, Chăm, Dao, Lô Lô… Ngày nay người Dao vẫn coi mình là con cháu của Bàn Hồ do đó họ có tục thờ chó, trang phục mô phỏng chó hay trang trí hình chó và để tóc kiểu chó. Cách để tóc mái bằng trước trán mà người Pháp gọi là "theo kiểu chó" (à la chien) ở người Cơ Tu, đó là kiểu để tóc thường thấy ở một số nhóm Xê Đăng, Tà Ôi, Bru (các tộc cùng có truyền thuyết về ông tổ chó), người Cơ Tu ở Quảng Nam bị gọi là "mọi có đuôi" vì nam giới Cơ Tu thường để đuôi khố dài phía sau. Người Pa Cô còn giữ tục kiêng giết và ăn thịt chó như con vật tổ. Truyền thuyết của người Pa Cô kể lại rằng, bà tổ và ông tổ chó vẫn sống cùng nhau ở nơi đất liền với trời. Người Khuyển Nhung tự xưng tổ tiên là hai con chó trắng (Bạch Khuyển), sùng bái vật tổ chó trắng, họ được phân loại là bộ tộc du mục của người Khương ở phía tây và là kẻ thù lớn của tộc Viêm Hoàng.
    Trần Ngọc Thành, Biệt danh của ông là "Tứ nhãn cẩu" (chó 4 mắt) do có hai nốt ruồi nổi rõ dưới mắt. Hai nốt ruồi này nhìn từ xa giống hai con mắt, và làm cho một số quân Thanh khiếp sợ.
    Đoàn Cảnh Trụ, tên hiệu Kim mao khuyển tức chó lông vàng (tiếng Trung: 金毛犬), là một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Thủy hử. Ông đứng cuối trong 72 Địa Sát Tinh của 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

Thờ chó đá
Chó đá ở nông thôn Trung Hoa có chức năng canh giữ yêu quái vào làng nhưng không có vai vế như thần Thổ Địa, không thấy thắp nhang, trẻ con có thể tuỳ tiện cưỡi lên lưng nó. Ở Lạng Sơn nhiều nơi cũng có tục thờ chó đá như: Chi Lăng, Đồng Mỏ, Khòn Lèng, Thất Khê, Tràng Định, Đồng Đăng, Cao Lộc… Ở người Việt có phong tục đặt chó đá trước cổng nhà, đền miếu để đuổi ma quỷ. Hình thức chó đá giữ vai trò canh gác là khá phổ biến ở nông thôn, ở huyện Đan Phượng (Hà Tây) có hai nơi thờ phụng chó. Một bệ thờ chó đá ngoài vườn, trước cửa đình thôn Phù Trung, xã Thượng Mỗ. Một bệ thờ chó đá khác nằm cạnh quần thể di tích chùa Phúc Khánh và đình làng Địch Vĩ, xã Phương Đình. Tại chùa Cầu (Hội An, Quảng Nam) hiện còn đôi chó khắc bằng gỗ ngồi chầu do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạo tác do chùa Cầu được xây dựng vào năm Tuất.

Hiện nay, ở nhiều địa phương người dân vẫn giữ tục chôn chó đá trước cửa, thậm chí thờ và kính cẩn gọi là cụ Thạch, Thần cẩu, quan lớn Hoàng Thạch. Trong quan niệm của người Việt xưa, chó là con vật trung thành và mang lại nhiều may mắn. Chó bình thường chỉ coi được phần dương, muốn canh giữ phần âm thì phải nuôi chó đá. Tục thờ chó được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Người Việt thường chôn chó đá trước cổng như một linh vật với ý nghĩa cầu phúc, trừ tà hoặc đặt chó đá trên bệ thờ và coi như một bậc thần linh. Chó đá trong nhà thường nhỏ, mang dáng vẻ hiền lành, không to lớn như chó đá ở đình, đền, phủ. Hình thức thờ chó đá khá phổ biến ở nông thôn, các vùng quanh Hà Nội như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên…

Ở mỗi vùng, hình thức thờ chó đá cũng khác nhau. Người Tày, Nùng một số nơi ở Lạng Sơn có tục chọn ngày tốt để đặt con chó đá trước cửa trông nhà và trừ tà ma. Với người Dao, hình ảnh con chó được biểu hiện trên trang phục. Người Pa Cô trong tộc người Cơ Tu còn kiêng giết thịt, coi con chó như vật tổ truyền. Ngày nay, người Việt một số nơi không chôn chó đá ở trước cửa nhưng vẫn mua chó gốm về để bày trong nhà, vừa xua đuổi tà ma, vừa làm vật trang trí.

Trong nghệ thuật
Hình tượng con chó được một số nghệ sĩ như nhà văn, họa sĩ, nhà điêu khắc trong giới mỹ thuật quan tâm trong sáng tác, tạo thành hình tượng nghệ thuật, dù vậy hình tượng con chó trong mỹ thuật có lẽ hiếm thấy hơn các con vật khác như: Rồng, ngựa, hổ... Ở phương Đông, người ta xem thường hình tượng con chó hơn phương Tây. Cho nên, những nghệ sĩ thật sự dành cảm xúc trước hình tượng con vật này cũng rất hiếm. Một số họa sĩ có vẽ chó nhưng ít diễn tả nó với cách nhìn đơn lẻ mà có sự phối hợp với hình tượng khác. Thí dụ vẽ chó cùng người trong cuộc đi săn, ít khi được coi là đối tượng chính trong tư duy sáng tác. Một số tác phẩm hội họa có thể kể đến như:
    Cái nhìn của Thánh Eustache, tranh sơn dầu, của họa sĩ Pisanello (1395-1455)
    Cái chết của Procris tranh sơn dầu của họa sĩ Piero di Cosimo (1462-1521)
    Người thợ săn tranh Jean Wildens, 1624
    Săn nai tranh sơn dầu của Paul de Vos
    Cuộc săn trên tuyết tranh sơn dầu của họa sĩ Pierre Bruegel (326)
    Chân dung Felix Sumarokow, tranh sơn dầu, 1903, Valentin Serow
    Chân dung Sinaida Jussupowa tranh sơn dầu, 1900-1902, Valentin Serow
    Sự chuyển động của con chó đang đi, Giacomo Balla của Trường phái vị lai
    Lại bị điểm hai, vẽ năm 1952, Feodor Reshetnikov
    Con chó hiếu chiến của Fabbri Agenore, 1947
    Bức tượng con chó đứng nhe răng mang tên Fedo của nhà điêu khắc Bessie North
    Ba con Chó, Đặng Thị Dương, 2005

Văn hóa đại chúng
Trong giai thoại về Xiển Bột có 2 câu chuyện về chó, lúc Xiển Bột còn nhỏ, rất ghét quan. Xiển mang một con chó con đi chợ, nhưng không bán, cứ ôm ở trước bụng, lúc thì chen đi trước quan, lúc thì lùi lại đi sau quan. Thấy Xiển mang chó, ai cũng tưởng Xiển mới mua, liên hỏi: Chó bao nhiêu?. Xiển trả lời: Quan đấy!. Quan phủ cho lính bắt lại hỏi. Xiển đáp: Bẩm quan, nhà con muốn nuôi một con chó con để dọn cứt cho em, nên bố mẹ con bảo con đi mua. Một giai thoại khác, nhân một hôm đang họp việc làng, chè chén cãi nhau ỏm tỏi, Xiển tìm một cái nồi vỡ, bỏ vào tít cứt người lẫn nước, đem đến chỗ đầu gió vừa đun vừa khuấy. Gió đưa mùi thối bay vào chỗ bọn cường hào đang họp. Chúng không chịu được, chạy ra quát tháo ầm ĩ. Xiển xin lỗi và phân trần: Thưa các ông, nhà tôi có một ổ chó con trở chứng, đòi ăn cứt sốt, cho nên phải đun cho chúng một ít. Lý trưởng trừng mắt hỏi: Ai bảo chú làm thế? Xiển đáp: Thưa các ông, người ta thường nói: "Lau nhau như chó đau tranh cứt sốt". Thấy người ta nói như vậy thì tôi cũng làm như vậy thôi.

Chủ đề bất công chủng tộc cũng xuất hiện một cách đầy hình tượng trong quyển tiểu thuyết Giết con chim nhại và điển hình như cảnh Atticus phải giết chết con chó dại, dù đó không phải là việc của ông. Nhà phê bình Carolyn Jones cho rằng con chó đại diện cho thành kiến còn tồn tại ở Maycomb, và Atticus, người đã đợi trên một con đường vắng để bắn con chó, phải đấu tranh chống lại nạn phân biệt chủng tộc ở nơi đó mà không có giúp đỡ nào từ những cư dân da trắng. Tác giả thậm chí đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ từ sự cố con chó dại để miêu tả một vài cảnh trong căn phòng xử án. Nhà phê bình Jones có viết: con chó dại ở Maycomb thật ra chính là nạn phân biệt chủng tộc đã phủ nhận quyền con người của Tom Robinson. Khi Atticus kết luận vụ việc ở phiên toà, ông thật ra đã bộc lộ một cách văn hoa nỗi căm phẫn của mình đối với bồi thẩm đoàn và thị trấn.

Trong văn học, tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung có chiêu võ công liên quan đến chó là "Đả cẩu bổng pháp" tức là những chiêu côn pháp dùng để đánh chó. Đây là một trong những tuyệt chiêu trấn phái của Cái Bang (dùng côn). Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau. Bộ bổng pháp này dùng nhu thắng cương. Đả Cẩu Bổng Pháp có tổng cộng 36 chiêu, mỗi chiêu có nhiều thức biến hóa khác nhau tạo thành vô số chiêu thức tinh diệu. Đả Cẩu Bổng Pháp được thi triển theo đường lối "Tứ lạng bạt thiên cân" (Bốn lạng bạt ngàn cân), võ công được áp dụng theo 8 chữ khẩu quyết: buộc, đập, trói, đâm, khều, dẫn, khoá, xoay. Nhà văn Kim Dung có nêu một số chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp:
    Ngao Khẩu Đoạt Trượng (Cướp gậy từ tay địch nhân)
    Áp Kiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)
    Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
    Bổng Đả Ác Cẩu (chữ Đập)
    Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
    Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm)
    Bát Cẩu Triều Thiên (chữ Khoá)
    Thiên Hạ Vô Cẩu (chữ Xoay)
    Ác Cẩu Lan Lộ
    Tà Đả Cẩu Bối
    Phản Tiệt Cẩu Đồn

Ở Việt Nam có Trường đua chó Vũng Tàu được tổ chức tại sân vận động Lam Sơn, thành phố Vũng Tàu, là nơi duy nhất ở Việt Nam tổ chức đua chó. Các cuộc đua chó được tổ chức vào thứ 6, thứ 7 hàng tuần, trường đua chó mở cửa cho người dân và du khách tới tham dự. Khán giả có thể tham gia chương trình dự thưởng bằng cách đánh cược vào các con chó tham gia cuộc đua. Trường đua này do một Việt kiều Úc đầu tư và được chính thức cấp phép từ năm 2001 tại Vũng Tàu. Giống chó đua là một giống chó săn có nguồn gốc từ Ireland được người Úc nhân giống, rồi cung cấp cho trường đua chó Vũng Tàu và nhiều nước khác.

Trong lĩnh vực điện ảnh, con vật này cũng có những vai diễn nổi tiếng trong các phim của Hollywood hoặc hãng Walt Disney sản xuất như: Trở về nước, Chuyến du lịch kỳ lạ, chó Benji trong Benji, chú chó săn, Cleo trong bộ phim truyền hình nhiều tập Sự lựa chọn của con người, chó Asta trong phim Người đàn ông mảnh khảnh phim hoạt họa 101 con chó đốm của WatlDisney đã để lại ấn tượng về những cá tính của các diễn viên do sự sáng tạo tinh tế của các họa sĩ ngoài ra còn bộ phim Cáo và chó săn. Một số bộ phim như:

    Phim Bác Fyodor, con chó và con mèo, (tiếng Nga: Дядя Фёдор, пёс и кот) là một cuốn tiểu thuyết đồng thoại dành cho thiếu nhi của nhà văn Eduard Uspensky, ra đời năm 1973. Được đánh giá là một trong những kiệt tác của dòng văn học thiếu nhi Liên Xô, tác phẩm là một câu chuyện vui nhộn được viết theo phong cách đồng thoại. Nơi chứa đựng những khát khao trong trẻo của tuổi thơ, ẩn giấu những ước mơ phiêu lưu thầm kín của bọn trẻ. Nơi con người và loài vật sống chan hòa. Nơi mèo biết nấu ăn, quạ biết trông nhà, chó biết săn ảnh, còn chiếc máy cày ăn thực phẩm thì biết hát nghêu ngao...
    Phim Chú chó Mukhtar, Chú chó Mukhtar, hay Mukhtar trở lại (tiếng Nga: Возвращение Мухтара) là tên gọi loạt phim truyền hình về cuộc phiêu lưu của một nhóm thám tử trẻ và một chú chó nghiệp vụ. Khởi quay năm 2003 và công chiếu lần đầu trên kênh truyền hình Nước Nga vào ngày 12 tháng 1 năm 2004, đến ngày 31 tháng 8 năm 2004 thì chuyển sang kênh NTV, đến nay bộ phim đã kéo dài đến hơn 500 tập.
    Phim Kế hoạch «Y» và những cuộc phiêu lưu khác của Shurik có kể về việc đống đồ đạc bừa bộn của người hàng xóm mới chuyển đến được bảo vệ bởi con chó dữ. Shurik Расхрабрившийся và sáng trí biết cách đưa bạn về đến phòng, anh thả con mèo vào thang máy, tuy nhiên khi quần nhau với con chó nó đã cắn rách quần anh. Lida đề nghị khâu quần cho Shurik, như vậy anh lại vào căn hộ của cô lần nữa.
    Phim Ba gã cùng thuyền, chưa kể con chó, (tiếng Nga: Трое в лодке, не считая собаки) là một bộ phim hài của hãng Lenfilm, công chiếu lần đầu năm 1979. Bộ phim dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Jerome Klapka Jerome.
    Phim Người đàn bà và con chó nhỏ (tiếng Nga: Дама с собачкой) là một bộ phim tâm lý, có phần lãng mạn của đạo diễn Iosif Kheyfits, ra mắt lần đầu năm 1960. Truyện phim dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Anton Chekhov.
    Phim Bốn chàng lính tăng và một chú chó (phim), một bộ phim truyền hình dài tập do Konrad Nałęcki và Andrzej Czekalski đạo diễn, khai thác đề tài Thế chiến II. Ra mắt lần đầu năm 1966, bộ phim dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Janusz Przymanowski.
    Phim Con chó săn của dòng họ Baskerville (tiếng Nga: Собака Баскервилей) là phần thứ ba trong loạt phim về những cuộc phiêu lưu của nhân vật thám tử Sherlock Holmes. Bộ phim được chuyển thể từ các tập truyện cùng tên của nhà văn Arthur Conan Doyle.
    Phim Câu chuyện về Mari và ba chú chó con (Nhật: マリと子犬の物語 Mari To Koinu No Mongatari?) là một phim Nhật Bản được đạo diễn bởi Ryuichi Inomata. Bộ phim được công chiếu ở các rạp của Nhật Bản vào ngày 8 tháng 12, 2007. Bộ phim dựa trên một câu chuyện có thật trong trận động đất Chūetsu 2004.

Đời sống
Người ta còn dùng khái niệm Nút chân chó (sheepshank) là một loại nút dây dùng để rút ngắn một dây thừng hoặc thâu gọn phần dây chùng. Nút chân chó có thể dùng để làm ngắn dây lại và duy trì độ chắc chắn khi kéo giản. Nút này rất là tiện lợi nếu ta không muốn phải cắt dây ngắn lại. Nút chân chó có thể dùng để căng buộc tải trọng vào xe tải, toa xe kéo và các sử dụng khác cho thuyền buồm. Động tác bơi của loài chó cũng được con người học hỏi để phóng tác thành kiểu bơi chó, người bơi kiểu này thở đơn giản, thậm chí không cần ngụp đầu xuống nước. Tuy không bơi nhanh, nhưng nổi được lâu và bơi được xa.

Trong quan hệ tình dục, những động tác giao phối của loài chó (chó lẹo) được con người mô phỏng và biến thể thành một trong những tư thế khi giao hợp, đó là tư thế kiểu chó tức người cho đưa dương vật vào từ phía sau, người nhận quỳ bằng cả tay và chân, thân song song mặt sàn. Người cho có thể nắm tóc của người nhận để làm điểm tựa và dễ điều khiển. Một biến thể của kiểu chó là người nhận chúi xuống phía trước, người cho có thể nâng hông của mình lên để có thể đưa dương vật vào sâu nhất. Ngoài ra còn kiểu chó đứng thẳng là biến thể của kiểu chó, người nhận quỳ thẳng thân. Đây là quan hệ tình dục theo kiểu Người cho phía sau người nhận, có thể được dùng trong quan hệ đường âm đạo hoặc đường hậu môn.

Trong trò chơi số đề, người chơi đề có rất nhiều cách đoán kết quả, người bình dân thì nằm mơ, thấy con gì đánh vào con đó, trong đó con chó ứng với các số 11 - 51 - 91.

Trong văn hóa
    Chó Ngao Cerberus: là con chó săn ba đầu của Hades với cái đuôi rắn, là con vật canh giữ ở cổng địa ngục. Ngoài ra, cũng có con vật canh cửa địa ngục khác như Orthus, người cha hai đầu của nó. Cerberus giữ cổng cho Hades và đảm bảo chỉ có linh hồn người đã chết mới được vào, và ngăn không cho bất kỳ ai ra. Hắn là con thứ 2, ngoài Chimera và Hydra. Hắn được sinh bởi Echidna và Typhon. Trong lòng địa ngục, hắn vẫn có một ao ước là có được một cái đầu người. Điều đó chứng tớ Cerberus có nhiều nhân tính chứ không phải là thú vật.
    Con chó ma Padfoot trong huyền thoại ở Anh. Theo đó người ta đồn rằng ở đâu có Padfoot, ở đó có sự chết chóc. Theo truyền thuyết của Anh, Padfoot có hình dáng giống một con chó đen khổng lồ, có khả năng tàng hình và thay đổi hình dạng mang theo những chuỗi âm thanh đáng sợ khi xuất hiện. Tương truyền, những người từng thấy chúng mà không chết sẽ trở thành điềm báo của cái chết. Mặc dù thường xuất hiện dưới hình dạng chó đen (hắc khuyển), đôi khi loài vật này cũng biến thành một con cừu ma quỷ có đôi mắt đỏ cháy rực.

Chó ma
Chó ma

    Hao Thiên Khuyển: của Dương Tiễn là con vật nổi tiếng trong truyện Tây Du Ký là con vật đã đánh hơi và tấn công Tôn Ngộ Không.
    Thiên Cẩu: Ở Nhật Bản là truyền thuyết về con chó thần bí
    Con chó Vàng trong tiểu thuyết Lão Hạc là con chó do con trai lão trước khi đi đồn điền cao su đã để lại. Lão vừa coi như con vừa coi như một người bạn trung thành. Tuy nhiên, vì gia cảnh nghèo khó không nuôi nổi nó nên ông lão đành cắn răng bán con chó đi. Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một "tội lỗi" là đã nỡ tâm "lừa một con chó". Lão đã khóc rất nhiều với ông giáo. Nhưng cũng kể từ đó, lão sống khép kín, lủi thủi một mình. Rồi một hôm, lão quyết định tìm đến cái chết để được giải thoát sau bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.
    Chó Laika: là một con chó của Nga (sinh năm khoảng 1954 - mất ngày 3 tháng 11 năm 1957). Laika thuộc giống cái, là sinh vật đầu tiên được đưa lên vũ trụ, bay vòng quanh Trái Đất và cũng là động vật đầu tiên hy sinh trên quỹ đạo.
    Chú chó Waldi là Linh vật chính thức trong Thế vận hội Mùa hè 1972, cũng chính là linh vật đầu tiên của thế vận hội.
    Chó ba đầu Fluffy là sinh vật họ chó, xuất hiện duy nhất tại tập 1 trong Sinh vật huyền bí trong Harry Potter. Nó có kích thước lớn, dữ tợn. Trong tập 1, nó là vật nuôi của bác Hagrid được bác hiến cho trường để bảo vệ Hòn đá Phù thủy. Tuy dữ tợn nhưng khi nghe chỉ cần một bản nhạc là nó có thể lăn ra ngủ như chết, hoàn toàn vô hại.

Chú chó Laika
Laika (Tiếng Nga: Лайка) là một con chó của Nga (sinh năm khoảng 1954 - mất ngày 3 tháng 11 năm 1957). Laika thuộc giống cái, là sinh vật đầu tiên được đưa lên vũ trụ, bay vòng quanh Trái Đất và cũng là động vật đầu tiên hy sinh trên quỹ đạo. Thời điểm con tàu chở Laika vào quỹ đạo, khi đó các nhà khoa học còn rất mơ hồ về tác động của chuyến bay ngoài không gian tới sinh vật sống. Một số nhà khoa học tin rằng con người có thể sống sót và chịu đựng được các điều kiện ngoài không gian. Vì vậy, một vài kĩ sư đã xem việc sử dụng động vật cho chuyến bay thử nghiệm trước khi thực hiện sứ mệnh bay của loài người là cần thiết. Hoa Kỳ sử dụng tinh tinh cho chuyến bay thử nghiệm trong khi Xô Viết quyết định sử dụng chó. Laika, tên gốc tiếng Nga là Kudryavka, đã trải qua khóa huấn luyện với hai chú chó khác và đã được chọn đưa lên tàu Sputnik 2 và bay lên quỹ đạo vào ngày 3 tháng 11 năm 1957. Con tàu Sputnik 2 đã không được thiết kế cơ cấu chống cháy và hạ cánh để thu hồi về Trái Đất, vì thế Laika đã được dự định trước sẽ chết trên chuyến bay.

Chú chó Laika,laika,Năm 1957, Laika trở thành sinh vật đầu tiên bay vào quỹ đạo, mở đường cho các chuyến bay của loài người.
Năm 1957, Laika trở thành sinh vật đầu tiên bay vào quỹ đạo, mở đường cho các chuyến bay của loài người.

Laika qua đời vài giờ sau khi tàu vũ trụ rời bệ phóng, cái chết được dự đoán là do tình trạng căng thẳng và nhiệt độ tăng cao, nguyên nhân được cho là lỗi chức năng của hệ thống kiểm soát nhiệt. Nguyên nhân thật sự và thời gian cái chết của Laika đã không được công bố cho đến năm 2002. Thay vào đó, Laika được đưa tin rằng bị thiếu hụt ôxy, hoặc lại có tin (theo như Liên Xô khẳng định ban đầu) rằng nó đã sống được 1 tuần và chết nhẹ nhàng trong vũ trụ. Tuy nhiên, thử nghiệm này đã chứng minh là con người có thể tồn tại được trên quỹ đạo và chịu đựng được tình trạng không trọng lượng. Nó đã mở đường cho những chuyến bay của con người vào không gian và cung cấp cho các nhà khoa học một số dữ liệu ban đầu về cách thức sinh vật sống phản ứng với môi trường vũ trụ. Ngày 11 tháng 4 năm 2008, các quan chức Nga đã chính thức công bố tượng đài của Laika. Một tượng đài nhỏ vinh danh Laika đã được xây dựng gần khu nghiên cứu quân sự tại Moskva, nơi đã chuẩn bị cho chuyến bay của Laika. Tượng đài mô tả Laika trên một bệ tượng mô phỏng hình tên lửa.

Sputnik 2
Sau thành công của Sputnik 1, lãnh đạo Liên bang Xô viết thời bấy giờ là Nikita Sergeyevich Khrushchyov đã có ý định cần phải phóng thêm tàu Sputnik khác vào ngày 7 tháng 11 năm 1957 để kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười. Một vệ tinh phức tạp được xây dựng, nhưng nó sẽ chưa được sẵn sàng cho đến tháng 12 năm 1957, vệ tinh này sau trở thành Sputnik 3.

Mô hình vệ tinh nhân tạo Sputnik 2, phía trên là máy phát tín và các thiết bị phục vụ sự sống, phía dưới là buồng kháng áp dành cho Laika
Mô hình vệ tinh nhân tạo Sputnik 2, phía trên là máy phát tín và các thiết bị phục vụ sự sống, phía dưới là buồng kháng áp dành cho Laika

Để đáp ứng được yêu cầu trong lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười vào tháng 11 này, 1 tàu vũ trụ mới được cấp thiết xây dựng. Nikita Sergeyevich Khrushchyov đặc biệt muốn các kỹ sư của mình phải đưa ra một "không gian tuyệt diệu", một nhiệm vụ có thể lặp lại được chiến thắng của Sputnik I. Các nhà hoạch định đã bắt tay vào kế hoạch cho một chuyến bay vào quỹ đạo của một con chó. Kỹ sư tên lửa của Liên bang Xô viết đã có dự định chuẩn bị một chuyến bay quỹ đạo cho chó trước khi cho người này từ lâu; kể từ năm 1951, họ đã nuôi dưỡng và huấn luyện 12 con chó phục vụ cho các chuyến bay quỹ đạo đường đạn ngắn hạn vào không gian, quá trình huấn luyện này dần dần gần đạt được đến mục tiêu cho 1 chuyến bay vào quỹ đạo thực sự cho chó vào khoảng năm 1958. Để đáp ứng nhu cầu của Nikita Sergeyevich Khrushchyov, chuyến bay đưa những con chó đã huấn luyện vào quỹ đạo được chuẩn bị gấp rút để phóng vào tháng 11.

Theo các nguồn tin của Nga, quyết định chính thức về việc khởi động và phóng tàu Sputnik 2 được thiết lập vào ngày 10 hoặc 12 tháng 10, làm cho nhóm thiết kế của Sergei Korolev, người sáng lập chương trình không gian Xô viết, chỉ còn 4 tuần để thiết kế và xây dựng con tàu, một nhiệm vụ khó khăn và cấp bách. Vì vậy mà Sputnik 2 được xây dựng rất vội vàng, đa số các yếu tố của con tàu vũ trụ này được xây dựng dựa trên bản phác thảo thô. Bên cạnh nhiệm vụ chính đưa con người vào vũ trụ, Sputnik 2 cũng mang theo những trang thiết bị để đo bức xạ mặt Trời và bức xạ vũ trụ.

Tàu Sputnik 2 được trang bị một hệ thống hỗ trợ sự sống bao gồm một máy phát ôxy và các thiết bị để tránh ngộ độc ôxy và hấp thụ khí CO2. Một cái quạt được thiết kế để hoạt động bất cứ khi nào nhiệt độ trong cabin vượt quá 15oC (59oF), chiếc quạt này được thêm vào trong tàu để giữ nhiệt độ mát cho chó. Tàu cũng trang bị đủ thực phẩm (ở dạng sệt) để cung cấp cho một chuyến bay bảy ngày trong không gian, chó cũng được trang bị một túi chuyên dụng để đựng các chất rác, chất thải.

Trước đó, nhằm mục đích cho việc đưa người lên vũ trụ, các nhà khoa học Liên Xô đã nghiên cứu và sau nhiều lần cân nhắc, chó được xem là đối tượng thử nghiệm thích hợp nhất vì chúng có khả năng tồn tại tương tự như con người.

Và ngay lập tức một đội "phi hành gia" chó đã được bí mật thành lập. Theo thiết kế, Sputnik-2 có tổng trọng lượng 508,3 kg, khoang lái của tàu được gắn các cảm biến dùng để đo áp suất và nhiệt độ xung quanh, cũng như huyết áp, nhịp tim, nhịp thở của phi hành gia.

Việc Laika trở thành phi hành gia cũng thật ngẫu nhiên. Sau khi bị đội thu gom động vật hoang bắt giữ, không biết có phải do thấy Laika có những tố chất cần thiết của một "phi hành gia" hay không mà các nhà khoa học lựa chọn nó.

Và thế là Laika, 3 tuổi, nặng 16 kg bỗng nhiên trở thành 1 trong 3 "phi hành gia" bí mật của Liên Xô: Laika, Albina và Mushka.

Laika tên thật là Kudryavka (Little Curly). Nhưng do cái tên này hơi khó đọc, nên các nhà khoa học Liên Xô gọi là Laika (Barker), bởi ở Liên Xô, giống chó Eskimo thường được gọi chung là Laika.

Huấn luyện
Để trở thành phi hành gia thực thụ, Laika cùng với các "đồng nghiệp" khác đã phải trải qua những cuộc thử nghiệm và tập luyện gắt gao.

Nhằm quen dần với việc sống trong khoang lái chật hẹp của tàu Sputnik-2, các con chó này đã bị nhốt liên tục trong những chiếc lồng chật hẹp trong khoảng từ 15 - 20 ngày.

Chúng còn phải làm quen với việc mang quần áo đặc biệt cũng như tập dùng những loại thức ăn đóng hộp ở dạng lỏng.

Để quen với những rung động mạnh và tiếng gầm rú của động cơ phản lực, chúng phải thường xuyên luyện tập với máy ly tâm mô phỏng quá trình tăng tốc của tên lửa đẩy, cũng như thiết bị mô phỏng tình trạng không trọng lực. Sau mỗi lần luyện tập, nhịp tim của chúng đều tăng gấp đôi.

Kết thúc khóa huấn luyện, chó Albina được chuyển sang bộ phận thử nghiệm sức chịu đựng của cơ thể sống trong điều kiện gia tốc cực lớn khi tên lửa đẩy khởi hành; chó Mushka được chuyển sang làm ở bộ phận thử nghiệm các thiết bị cứu hộ và khoang đổ bộ của tàu vũ trụ.

Laika tập luyện với hộp kháng áp (mô hình phục chế)
Laika tập luyện với hộp kháng áp (mô hình phục chế)

Riêng Laika được sử dụng để nghiên cứu sức chịu đựng của cơ thể sống trong điều kiện không trọng lực. Và chính nhiệm vụ này đã giúp Laika trở thành sinh vật sống đầu tiên bay vào vũ trụ.

Chuyến bay cảm tử
Ngay trước thời điểm phóng tàu, Laika được tắm rửa sạch sẽ bằng dung dịch pha cồn, lông được chải chuốt cẩn thận, và thuốc iốt được bôi vào những vị trí gắn các thiết bị cảm biến theo dõi chức năng cơ thể và được đưa vào khoang lái tàu Sputnik-2. Tất cả đã sẵn sàng.

Ngày 3/11/1957, tại sân bay vũ trụ Baikonur, Sputnik-2 được phóng lên quỹ đạo Trái Đất, mang theo Laika.

Theo các tín hiệu thu được từ các thiết bị cảm biến gắn trên thân thì trong quá trình phóng tàu, nhịp tim của Laika tăng cao gấp 3 lần bình thường. Sau khi tàu đạt đến trạng thái không trọng lực thì nhịp tim của Laika lại bắt đầu giảm mạnh.

Ngay ngày hôm đó, Đài Phát thanh Moskva cho phát đi thông tin rằng những tín hiệu từ Sputnik-2 cho thấy: hoạt động của các thiết bị khoa học vẫn diễn ra bình thường và Laika vẫn sống.

6 ngày sau đó, Trái Đất hoàn toàn mất liên lạc với tàu Sputnik-2. Các thông tin do Cơ quan Nghiên cứu Vũ trụ Liên Xô cung cấp vào thời điểm đó cho thấy Laika đã sống tới ngày thứ 4 của chuyến du hành.

Không lâu sau khi Sputnik-2 được phóng đi, các nhà khoa học Liên Xô đã phải thừa nhận rằng do các thiết bị đổ bộ chưa kịp hoàn thiện nên tàu Sputnik-2 đã được xác định là sẽ thực hiện chuyến bay thử nghiệm cảm tử, một đi không trở lại.

Hơn nữa, lượng thức ăn và ôxy chỉ đủ cho Laika dùng 10 ngày, trong khi sứ mệnh của Sputnik-2 sẽ kéo dài tới tháng 4/1958.

Điều đó có nghĩa là số phận của Laika đã được định đoạt ngay từ đầu, nó sẽ chết và bị thiêu cháy cùng với con tàu khi quay trở lại bầu khí quyển Trái Đất.

Sau 163 ngày bay liên tục 2.570 vòng quanh quỹ đạo Trái Đất ở điểm gần nhất là 225km và xa nhất là 1.671 km với vận tốc 28.968 km/h, ngày 14/4/1958, Sputnik-2 mang theo xác Laika đã rực cháy trên đường trở về Trái Đất, kết thúc xuất sắc sứ mạng tiên phong của mình.

Những sự kiện xung quanh chuyến bay của Laika
Phải tới cuối tháng 10 năm 2002, tức đúng 45 năm sau ngày Laika được phóng vào vũ trụ, tại Hội nghị Không gian vũ trụ Thế giới được tổ chức tại Mỹ, sự thật về cái chết của Laika mới được tiết lộ.

Báo cáo của Tiến sĩ Dimitri Malashenkov thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề sinh học ở Moskva đã giúp chấm dứt những suy đoán kéo dài hàng thập kỷ về cái chết của Laika.

Theo đó, những cảm biến gắn trên người Laika ghi nhận rằng ngay sau khi khoang lái đạt vận tốc gần 28.968 km/giờ, nhịp tim của Laika đã tăng gấp 3 lần bình thường do nóng, sợ hãi và căng thẳng.

Sau từ 5 - 7 giờ trên quỹ đạo (tức là sau khoảng 4 vòng bay quanh Trái Đất), trạm kiểm soát mặt đất không nhận được thêm bất cứ một tín hiệu sống nào của Laika.

Về nguyên nhân gây ra cái chết của Laika, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề sinh học đều nhất trí rằng Laika đã chết do hoảng sợ quá độ khi Sputnik 2 ở vào tình trạng không trọng lực, và trục trặc của hệ thống điều hòa đã khiến nhiệt độ khoang lái tăng cao quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể sống.

Tuyên bố về việc vệ tinh nhân tạo Sputnik 2 sẽ cháy trong khí quyển khi thế năng bay không còn đã gây sửng sốt cho không ít người và làm dấy lên làn sóng phản đối hành vi ngược đãi động vật. Hiệp hội Bảo vệ Chó Quốc gia của Anh kêu gọi những người nuôi chó hãy dành một phút mặc niệm Laika. Trong khi đó thì NASA cũng tiến hành thử nghiệm cả chuột, sóc, khỉ và tinh tinh trên các chuyến bay của họ và một số con đã chết thì không một ai ngỏ lời phản đối.

Cái chết của Laika đã mở đường cho sự sống trên vũ trụ của "cặp vợ chồng" chó Belka và Strelka. Chó đực Strelka và chó cái Belka được Cơ quan hàng không vũ trụ Liên Xô phóng lên không gian ngày 19 tháng 8 năm 1959 bởi tên lửa đẩy R-7 mang vệ tinh Sputnik-5. Ngày 20 tháng 8, Sputnik-5 hạ cánh nhẹ nhàng bằng dù trên thảo nguyên gần Baikonur (Kazakhstan). Cả Strelka và Belka đều khỏe mạnh và an toàn. Vài tháng sau đó, "cặp uyên ương" vũ trụ đầu tiên này đã sinh được 6 con chó con (2 đực, 4 cái) khỏe mạnh. Lãnh tụ Liên Xô Nikita Sergeyevich Khrushchyov đã chọn một con đẹp nhất gửi tặng Caroline Kennedy, con gái của Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy.

Vinh danh
Vỏ bao thuốc lá mang tên và hình Laika cùng Sputnik 2 được bán rộng rãi trên lãnh thổ Liên bang Xô viết và nước ngoài cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60

Mặc dù không có cơ hội sống sót trở về, nhưng sự hy sinh của Laika không hề uổng phí bởi nó đã giúp chứng tỏ một điều: sinh vật sống có thể tồn tại trong tình trạng không trọng lực ngoài không gian.

Đài tưởng niệm Laika tại đảo Krete (Hy Lạp)
Đài tưởng niệm Laika tại đảo Krete (Hy Lạp)

Chuyến bay của Laika đã mở đường cho việc chuẩn bị phóng tàu có người lái không lâu sau đó, cũng như đem lại cho các nhà khoa học những số liệu đầu tiên về việc các sinh vật sống phản ứng như thế nào trong môi trường vũ trụ.

Rút kinh nghiệm từ Sputnik-2, ngày 12/4/1961, Liên Xô phóng thành công tàu Vostok-1 (Phương Đông 1) đưa Yuri Gagarin - phi công vũ trụ đầu tiên của loài người lên quỹ đạo.

Để tưởng nhớ Laika, nhiều nước đã phát hành những bộ tem kỷ niệm và bưu thiếp có hình con vật đáng yêu này. Các hãng sản xuất sô-cô-la, thuốc lá... cũng lấy tên là Laika. Các ban nhạc lấy cảm hứng từ Laika cũng lần lượt ra đời: Laika, Laika Dog, Laika and the Cosmonauts... Trong suốt nửa thế kỷ qua, Laika trở thành đề tài của rất nhiều tiểu thuyết, phim truyện, bài hát...

Vỏ bao thuốc lá mang tên và hình Laika cùng Sputnik 2 được bán rộng rãi trên lãnh thổ Liên bang Xô viết và nước ngoài cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60
Vỏ bao thuốc lá mang tên và hình Laika cùng Sputnik 2 được bán rộng rãi trên lãnh thổ Liên bang Xô viết và nước ngoài cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60

Tem của nước Romania năm 1959 in hình Laika
Tem của nước Romania năm 1959 in hình Laika

Ngày 11 tháng 4 năm 2008, đúng 50 năm sau ngày xác Laika được hỏa thiêu trong khí quyển Trái Đất, tại Viện Quân y bên đại lộ Petrovsko - Razumovsky ở Moskva, nơi Laika đã luyện tập để chuẩn bị thử nghiệm trong không gian, người Nga đã dựng một tượng đài tưởng niệm Laika do nhà điêu khắc Pavel Medvedev thiết kế. Bệ tượng đài mô phỏng một tên lửa vũ trụ, phần trên của các động cơ mô phỏng bàn tay con người. Tượng Laika đứng trên đó, trong lòng bàn tay của con người.

Chú chó Hachikō
Hachikō (tiếng Nhật: ハチ公) hay Chūken hachikō (tiếng Nhật: 忠犬 ハチ公) là một chú chó giống Akita sinh ngày 10 tháng 11 năm 1923 tại thành phố Odate, tỉnh Akita, Nhật Bản và chết ngày 8 tháng 3 năm 1935 tại quận Shibuya, Tokyo - nổi tiếng khắp Nhật Bản và được xem như là một biểu tượng của lòng trung thành.

Bức ảnh Hachikō đầu năm 1935
Bức ảnh Hachikō đầu năm 1935

Cuộc đời
Năm 1924, Hidesaburō Ueno (上野 英三郎), giáo sư thuộc khoa nông nghiệp trường Đại học Đế quốc Tokyo (nay là trường Đại học Tokyo), đã mua và đưa Hachi (tên thân mật của Hachikō) tới Tokyo. Trong suốt khoảng thời gian sau đó, chú và ông chủ đã trở thành những người bạn không thể tách rời. Mỗi buổi sáng, Hachikō theo tiễn chủ tới tận nhà ga Shibuya nơi ông chủ đi tới nơi làm việc và chờ đón ông tại đó đến khi ông trở về vào cuối ngày. Những ngày hạnh phúc đó cứ tiếp diễn cho đến một ngày định mệnh vào tháng 5 năm 1925, khi ông chủ bị nhồi máu đột ngột, từ trần ngay tại nơi làm việc và vĩnh viễn không thể nào trở về nhà. Nhưng như thường lệ, Hachikō vẫn tới nhà ga để chờ đón người bạn thân thiết của mình song không thấy. Và cứ mỗi ngày sau đó, chú vẫn đều đặn lặp lại trong vòng hơn 9 năm dài cho đến khi chết.

Sự nổi tiếng
Năm đó, một sinh viên cũ của ông Ueno đã trông thấy Hachikō và được nghe về câu chuyện của cuộc đời chú. Sau buổi gặp gỡ, anh đã công bố một bản điều tra số lượng còn lại của giống chó Akita tại Nhật Bản, theo đó chỉ còn lại 30 con thuộc giống Akita thuần chủng bao gồm cả Hachikō. Sau đó, anh vẫn tiếp tục đến thăm chú chó và tiếp tục công bố những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachikō. Đáng chú ý là vào năm 1932, một trong số những bài viết này đã được đăng tải trên tờ báo Asahi Shimbun - một tờ nhật báo nổi tiếng của Tokyo với số lượng độc giả rất lớn - đã khiến cho mọi người biết tới Hachikō. Lòng trung thành của chú đã gây ấn tượng cho tất cả mọi người, các giáo viên đã lấy Hachikō như một tấm gương sáng về lòng trung thành cho trẻ noi theo, các nghệ sĩ nổi tiếng đã bắt đầu tạc tượng chú, trên cả nước dấy lên phong trào phát triển giống chó Akita, và danh hiệu Chūken (忠犬 - chú chó trung thành) cũng ra đời...

Nhà ga Shibuya thời đó, trước chiến tranh
Nhà ga Shibuya thời đó, trước chiến tranh

Cái chết
Cuối cùng, ngày 8 tháng 3 năm 1935, Hachikō đã có thể gặp lại người chủ của mình. Chú chết tại chính nơi hơn 9 năm trước chú đã tiễn ông chủ đi lần cuối cùng do mắc chứng giun chỉ. Xác Hachikō đã được nhồi bông và bảo quản tại Bảo tàng Quốc gia về Thiên Nhiên và Khoa học Nhật Bản thuộc quận Ueno, Tokyo.

Mộ chú chó Hachiko tại Minato, Tokyo, hình chụp năm 2007
Mộ chú chó Hachiko tại Minato, Tokyo, hình chụp năm 2007

Tưởng niệm
Tượng đồng Hachikō

Bức tượng đồng đầu tiên của Hachikō - tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng Nhật Bản Ando Teru - được dựng vào tháng 4 năm 1934 tại nhà ga Shibuya, và chính Hachikō cũng có mặt trong buổi lễ khánh thành hôm đó. Song, trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, do sự khan hiếm nguyên liệu để phục vụ chiến tranh, tất cả những gì có thể dùng đã bị nấu chảy trong đó có cả bức tượng này.Nhưng Hachikō vẫn không bị quên lãng, sau chiến tranh, tháng 8 năm 1948, bức tượng mới đã được dựng lên tại chính chỗ này với sự tham gia của nhà điêu khắc Ando Takeshi - con trai của Ando Teru. Bức tượng này tồn tại đến ngày nay, lối vào chính nhà ga gần bức tượng được đặt tên là "cửa ra Hachikō" (ハチ公口 - Hachikō- guchi) và là một trong năm cửa chính của nhà ga.

Bức tượng bằng đồng Hachikō tại nhà ga Shibuya
Bức tượng bằng đồng Hachikō tại nhà ga Shibuya

Tại quê nhà của Hachikō, một bức tượng tương tự cũng được đặt ngay phía trước nhà ga Odate. Năm 2004, một bức tượng mới cũng được dựng lên trên bệ đá từ Shibuya ngay trước Bảo tàng các loài chó giống Akita tại thành phố Odate.

Vì câu chuyện nghe rất cảm động nên năm 2009, Mỹ đã làm lại từ phim của Nhật Hachiko sang phim là Hachiko: câu chuyện đáng thương của một chú chó.

Hình tượng chó Hachiko tại Bảo tàng Quốc gia về Thiên Nhiên và Khoa học Nhật Bản tại Tokyo
Hình tượng chó Hachiko tại Bảo tàng Quốc gia về Thiên Nhiên và Khoa học Nhật Bản tại Tokyo

Hachikō trên các phương tiện truyền thông
Năm 1987, bộ phim Hachikō Monogatari đã kể lại cuộc đời của Hachikō từ khi chú được sinh ra đến khi chết đi và tiếp tục, linh hồn của chú đã gặp lại được linh hồn của vị giáo sư - ông chủ, người bạn thân thiết của chú.

Năm 1994, Đài phát thanh CBN (Culture Broadcasing Network) Nhật Bản đã cho phát một bản ghi âm cũ tiếng sủa của Hachikō. Với một chiến dịch quảng cáo rầm rộ, ngày 28 tháng 5 năm 1994, 59 năm sau cái chết của Hachikō, hàng triệu thính giả Nhật Bản đã bật đài lên để nghe tiếng sủa của chú. Điều đó chứng tỏ, Hachikō vẫn rất nổi tiếng và được yêu mến.

Năm 2004, Hachikō trở thành nhân vật trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi, Hachikō: câu truyện thật về một chú chó trung thành (tựa tiếng Anh: Hachikō: the true story of a loyal dog) của nữ tác giả Pamela S. Turner, minh họa bởi Yan Nascimbene, công ty Hougton Mifflin xuất bản. Cũng trong năm này, một cuốn truyện khác có tựa Hachiko waits cũng được xuất bản với tác giả Leslea Newman, Machiyo Kodaira minh họa, công ty Henry Holt & Co. xuất bản.

Một công ty xe buýt công cộng tại Shibuya cũng mang tên Buýt Hachikō (Hachiko Bus (ハチ公バス Hachikō Basu?)) cũng chạy cả tuyến đường mà trước đây hàng ngày Hachikō đã đi.

Trong phim ảnh
    Rex - Chú chó thám tử là chú chó chăn cừu giống Đức trong vai trò là một chú chó cảnh sát tên Rex. Rex và cộng sự của mình cùng với phần còn lại của đội đặc nhiệm Kriminalpolizei tại Vienna chuyên điều tra các vụ án giết người đáng chú ý, họ làm việc cùng nhau và truy tìm ra hung thủ. Kể từ năm 2008, bộ phim được lấy bối cảnh tại Rome. Rex có nhiều người chủ khác nhau qua các thời kỳ, hầu hết Rex phải đổi chủ là vì chủ cũ đã hi sinh trong quá trình phá án. Mỗi lần đổi chủ là một lần thử thách cho nhân vật xuyên suốt này.
    Con chó của dòng họ Baskerville, một con chó sát thủ trong câu chuyện về thám tử Serlochome.
    Con chó Dug (Bob Peterson) trong phim Vút bay có đeo một vòng cổ đặc biệt cho phép nó có thể nói được. Dug là thành viên có địa vị thấp nhất trong một đàn chó rất thông minh của Charles Muntz. Muntz, vì chưa tìm được mẫu vật còn sống của con vật mà xưa kia bị cho là giả tạo, vẫn còn sống trong lưu vong. Vẫn tin tưởng rằng ông và các con chó của mình sẽ tìm được con thú ấy, Muntz đã huấn luyện các con chó như một đội quân đầy tớ.
    Chú chó Wishbone trong phim truyền hình Wishbone - Chú Chó Nhỏ và Màn Kịch Lớn là một chú chó ngoan, lúc nào cũng tưởng tượng ra một thế giới song song của văn học cổ điển cùng tồn tại với thế giới thực của chú và người bạn là con người của mình. Wishbone là một chú chó đực đốm 3 màu giống Jack Russell Terrier (toàn thân trắng với các đốm nâu và đen). Chú luôn cố gắn gây ấn tượng và tự nhủ rằng con người sẽ có thể nghe được chú nói nếu họ thực sự chú ý và để tâm đến, nhưng chú cũng hiểu là thực sự họ sẽ chằng bao giờ làm được như vậy.

Trong hoạt hình
    Chó Pluto là một nhân vật hoạt hình động vật trong chuỗi nhân vật hoạt hình của Walt Disney. Chú thường xuất hiện như một con thú nuôi của Chuột Mickey. Chú cũng là vai chính độc lập trong loạt hoạt hình của Disney những thập niên 30, 40, 50 của thế kỉ XX. Pluto là một trong số ít những nhân vật không được nhân hóa (theo biểu hiện nét mặt và sử dụng chi trước) của Disney, chú sau đó được coi như một chú chó bình thường (khác với Goofy là chú chó được nhân hoá). Pluto trở thành một nhân vật quan trọng trong Mickey Mouse universe và trở thành một trong những nhân vật hoạt hình nổi tiếng nhất mọi thời đại. Chú cũng được xếp thứ 5 trong những nhân vật mọi thời đại của Disney sau Chuột Mickey, Vịt Donald, Chuột Minnie và Goofy. Đầu những năm 1950s khán giả trở nên yêu thích Pluto hơn cả nhân vật thú nuôi đối thủ Mèo Sylvester của Warner Bros. Pluto đứng đầu trong 100 thú nuôi vĩ đại nhất mọi thời đại.
    Chú cho Rantanplan là chú chó hư cấu trong truyện tranh Lucky Luke và sau đó được đặt tên cho loạt truyện mà Morris viết riêng về nhân vật này. Tên của Rantanplan được đặt dựa theo tên Rin Tin Tin. Rantanplan là "chú chó ngốc hơn cả cái bóng của mình". Chú ta thường đi lòng vòng theo Lucky Luke và gây cười cho người đọc bằng sự ngốc nghếch của mình. Đôi khi chú nhảy chồm lên người khác nhằm làm cho họ nơi lỏng súng và tự làm cho mình mất sự bảo vệ. Nhưng thường thì chú ta nhảy hụt. Rantanplan được mô tả là chú chó có cái mũi điếc, chú không thể nào đánh hơi theo bất cứ mùi nào (trừ mùi thức ăn). Chú chó này cực kì phàm ăn, có thể ăn bất cứ thứ gì. Là một con chó, nhưng Rantanplan lại không biết bơi nên thường xuyên bị ngộp nước. Sở thích chính của Rantanplan là ăn, ngủ và ngắm trăng. Nghề nghiệp chính của Rantanplan là chó canh ngục, nhưng chú sử dụng hầu hết thời gian của mình để ngủ ở sân trong của nhà tù.

Chú chó Rantanplan ngốc hơn cả cái bóng của mình
Chú chó Rantanplan ngốc hơn cả cái bóng của mình

    Chó ngao Spike trong Tom và Jerry là một chú chó dễ nổi giận và vô cùng bạo lực. Thế nhưng Spike lại rất thương chú chó con của mình là Tyke, một chú chó ngây thơ và đáng yêu. Spike có bề ngoài to béo với những đặc điểm thường thấy của giống chó ngao là có hai má chảy xuống. Màu lông của Spike là xám và trắng kem. Spike nổi tiếng với câu mắng Tom: Nghe này con mèo kia và câu: Đúng là con trai tôi mỗi khi Tyke khiến Spike vui vẻ và muốn động viên con. Tyke lại là một hình mẫu trái ngược với cha mình, Tyke là một chú chó con vui vẻ, đáng yêu. Tyke không thể nói như cha mà chỉ có thể sủa ăng ẳng trong khi vẫy cái đuôi nhỏ một cách dễ thương dù cho Spike cũng từng cố gắng để dạy con trai gầm gừ cho ra dáng một chú chó.
    Cô chó cái Lady trong Tiểu thư và chàng lang thang là một nàng cún loại Tây Ban Nha lông dài mượt, đôi tai to rủ xuống dịu dàng. Cô có tất cả những gì bất kỳ chú chó nhà nào cũng phải mơ ước: một bà chủ tốt, một căn nhà ấm áp, những người bạn đáng yêu... cho đến khi trong gia đình xuất hiện một thành viên mới. Đó là một em bé mới sinh – kẻ đã lấy đi sự quan tâm vốn chỉ dành cho Lady từ trước đến nay. Số phận trở nên nghiệt ngã hơn khi Dì Sarah, một người rất yêu mèo, đến trông nhà giúp bà chủ trong vài ngày. Hai chú tiểu hổ sinh đôi rất nghịch, chúng phá hoại lung tung và người bị đổ lỗi lại là Lady tội nghiệp. Cô bị hắt hủi tàn tệ và phải trốn chạy khỏi căn nhà đó. Và thế là Lady bước vào một thế giới hoàn toàn khác không có nhiều màu hồng như cô vẫn thấy.
    Anh chàng chó lai lang thang Tramp trong Tiểu thư và chàng lang thang xuất hiện làm thay đổi cuộc đời Lady. Tramp vốn là một chú chó sống tự do, không vướng bận chuồng nhốt hay vòng xích, cũng chẳng phải vẫy đuôi với người chủ nào. Tình cờ anh có mặt trước cửa nhà Lady và rủ cô cùng đi trong cuộc phiêu lưu không có đích đến của anh. Đôi bạn nhanh chóng nảy sinh tình cảm dù họ khác nhau quá nhiều. Để có một cái kết hạnh phúc, một trong hai chú cún này phải thay đổi bản thân. Vậy Lady quý phái sẽ từ bỏ mái ấm để "đi bụi" với Tramp hay anh chàng cún giang hồ chịu dừng bước phiêu lưu để "an cư lạc nghiệp" với nàng Lady xinh đẹp.
    101 Chú chó đốm: Kể về việc những con chó đốm mới sinh của gia đình biến mất. Những con chó nhà Dearly được gộp vào với 97 chú chó con khác đã bị bắt cóc hoặc mua từ nhiều người, tất cả để bị lột da làm một chiếc áo khoác lông thú. Qua sự giúp đỡ của nhiều con thú, những con chó được xác định là đang bị giữ tại Suffolk, Anh, và một cuộc giải cứu bắt đầu. Sau này có thêm phim 101 con chó đốm II: Luân Đôn Phiêu lưu của Patch, câu chuyện bắt đầu khi chú cún Patch bị 98 chú chó con khác bỏ lại trong chuyến đi của gia đình nhà Roger đến nơi ở mới tại trang trại Cherry Tree, Little Devon.
    Trong 101 chú chó đốm (phim) thì một con chó đốm tên là Pongo sống cùng người chủ là một nhạc sĩ độc thân thích hút tẩu tên Roger Radcliff. Roger và chú cún ngồi trong công viên "vô tình" gặp Anita và cô chó đốm Purdy. Duyên số đưa đẩy họ đến với nhau và hai đám cưới của chủ và cún đã diễn ra hết sức hạnh phúc.
    Chú chó săn Copper trong bộ phim Cáo và chó săn và Cáo và chó săn 2, là bạn của cáo Tod cho đến mùa săn bắn, vì số phận, lại trở thành đối thủ của nhau, lão chó già Chief còn bị gãy chân vì đuổi bắt Tod càng làm tăng mâu thuẫn giữa Tod và Copper. Thấy Tod không thể sống ở nông trại thêm nữa, bà Tweed đã đem thả nó vào rừng, ai ngờ ông thợ săn Slade biết được liền đem Copper theo, quyết tâm săn cho kì được con cáo.
    Chú chó nhút nhát Courage trong Courage the Cowardly Dog, còn được biết là Chú chó ngốc nghếch và Chú chó nhú nhát trong loạt phim hoạt hình kinh dị, hài hước dài tập rất nổi tiếng của Mỹ, được phát sóng trên kênh Cartoon Network. Phim kể về gia đình có nuôi một chú chó màu hồng thông minh tên Courage (có nghĩa là "Dũng cảm"), gia đình này hay bị ma quỷ, quái vật quấy phá và chú chó Courage lúc nào cũng là người phải tìm đủ mọi cách chống lại bọn chúng để cứu chủ mình.
    Chú chó trắng Snowy là một chú chó trắng, người bạn rất già bốn chân rất rất trung thành của Tintin trong bộ truyện Những cuộc phiêu lưu của Tintin. Cậu rất rất thường hay "nói" với người đọc qua suy nghĩ của mình.
    Chú cún con Momo là nhân vật trong Cún con Momo là con chó dễ thương thuộc giống Pembroke Welsh Corgi với đôi chân ngắn ngủn và cái bụng mềm mà ai nhìn cũng muốn sờ vào. Là cô nàng nghịch ngợm, ham chơi: hay ngứa răng cắn hỏng đồ đạc, hoặc quậy tung nhà cửa, và khi chơi cũng hăng hái vô cùng, làm "bố mẹ" không ngơi nghỉ được chút nào, kể cả khi bị ốm, Momo cũng là cô nàng nhõng nhẽo: lúc nào cũng thích được vuốt ve, và khi được vuốt ve rồi thì nhất quyết không rời; Momo là cô nàng ham ăn: ăn với tốc độ kinh hoàng, không biết no, sẵn sàng làm tất cả để có được đồ ăn, dù là phải trèo lên kệ bếp cao để lấy chiếc bánh thơm lừng, và không chịu nhường thức ăn cho ai; Momo là cô nàng láu lỉnh: mỗi khi gây lỗi lại dùng "mĩ cún kế" khiến "bố mẹ" phải nhượng bộ; nhưng Momo cũng là cô bé hiếu thảo: biết canh chừng cho "bố mẹ" ngủ ngon khi họ bị ốm; Momo cũng rất tình cảm: biết an ủi người thân những khi họ buồn. Vì những tính cách đó mà Momo được mọi người xung quanh, kể cả những chú chó khác yêu mến.
    Ninken là những chú chó ninja được Kakashi sử dụng thuật triệu hồi để goị trong Naruto. Tất cả Ninken đều có 1 hình mặt người ở trên lưng áo. Pakkun là 1 trong những Ninken và là chú chó được Kakashi triệu hồi nhiều nhất.
    Inu Yasha (Khuyển Dạ Xoa) là nhân vật chính trong bộ truyện tranh manga và phim hoạt hình anime cùng tên Inu Yasha. Chữ "Inu" 犬 (viết theo bộ hiragana là いぬ) nghĩa là "chó". Chữ "Yasha" 夜叉 (viết theo bộ hiragana là やしゃ) bắt nguồn từ chữ "Yaska" trong tiếng Phạn यक्श, nghĩa là "linh hồn", trong trường hợp này có thể hiểu là "quỷ". Vì vậy Inu Yasha hay được phiên ra tên Hán Việt là "Khuyển Dạ Xoa".
    Sesshomaru (Sát Sinh Hoàn) là anh cùng cha khác mẹ với Inu Yasha. Trong khoảng đầu truyện, Sesshomaru là nhân vật phản diện, nhưng về sau, cùng với sự thay đổi nhân cách của mình, anh lại được đánh giá như nhân vật chính diện.
    Inu no Taishou (Khuyển Đại tướng) là một nhân vật trong loạt truyện tranh manga và phim hoạt hình anime Inu Yasha của tác giả Takahashi Rumiko. Ông là cha của hai anh em Sesshomaru và Inu Yasha. Tên ông có nghĩa là yêu quái chó vĩ đại. Có khá ít thông tin được biết về Inu no Taishou, và bản thân ông ít xuất hiện trong loạt truyện InuYasha.
    Chú chó lai Balto trong Bộ phim cùng tên là một chú chó lai sói lông xám, sống lang thang ở thị trấn Nome. Cha của Balto thuộc giống Husky, mẹ là con sói trắng tên Aniu. Vì dòng máu lai, Balto luôn bị cả con người, chó và sói ghét bỏ, cậu thực sự không biết mình thuộc về nơi đâu. Niềm đam mê của Balto là theo dõi những cuộc đua chó của Nome và cậu ước sẽ có ngày trở thành chó kéo xe. Trong phim, Balto là nhân vật duy nhất có thật trong lịch sử, còn lại chỉ là nhân vật hư cấu.
    Chú chó Ichi (Số Một) trong Doraemon: Nobita ở vương quốc chó mèo, một chú chó dễ thương ở sân bóng được Nobita lượm về và đã đưa chúng về thời điểm 300 triệu năm truớc (khi con người và khủng long chưa hề tồn tại). Để các loài vật biết dùng máy để tạo ra thức ăn, sau đó một con chó to tên là Daku cướp chuỗi ngọc rồi chạy mất. Jaian lao ra đánh vật với con chó đó (sau đó đánh vật với một con chó khác là Blutaro). Nó bèn ném chuỗi ngọc cho đồng bọn là Chiko. Cả nhóm Doraemon đuổi theo và bất chợt Nobita thấy một con chó không khác gì Số Một nhưng con chó không chịu nhận và tự xưng là Hachi (Somo). Cả nhóm bạn Doraemon đã biết được mục tiêu của nhóm Hachi là tìm bố mẹ mình trong 1 khu vui chơi giải trí và giúp đỡ nhóm Hachi.
    Chú chó Peko (Bụng Rỗng) trong Doraemon: Nobita thám hiểm vùng đất mới và Doraemon: Tân Nobita thám hiểm vùng đất mới - Peko và 5 nhà thám hiểm, một chú chó màu trắng được Nobita lượm về và nó tìm ra một vùng đất bí ẩn ở châu Phi, vì thế mà cả nhóm Doraemon quyết định lên đường khám phá vùng đất ấy. Chú chó ấy chính là hoàng tử Kuntaku (Khinthắt) của Vương quốc Bovan toàn là chó, đã thoát chết trong cuộc đảo chính của quân phản loạn Dabranda. Nhờ may mắn, họ đã được bác Burs, Chipo (Xítpôn) kể lại tình hình chiến sự của bọn lính tay sai của tên Dabranda. Họ cùng nhau chiến đấu với bè lũ tay sai của Dabranda. Với sự giúp đỡ của nhóm Doraemon đến từ tương lai, họ đến lay động trái tim vị thần khổng lồ và pho tượng ấy đã giúp cả nhóm và Kuntaku phá tan bè lũ Dabranđa.

Thành ngữ về chó
Trong số những con vật gần gũi với con người, không ai không nhắc đến con chó, khác với loài vật khác, hình ảnh chú chó xuất hiện khá nhiều trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Trong kho tàng tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, có ít nhất 70 câu xuất hiện hình ảnh con chó.
    Chó ngáp phải ruồi: Chỉ sự may mắn ngẫu nhiên, chứ không phải do tài mà có đã được
    Chó chui gầm chạn: Chỉ về hoàn cảnh ở rể
    Chó cắn áo rách: Chỉ nghèo khó, cùng cực bị kẻ xấu làm hại, bóc lột thêm - kẻ bất lương làm hại người khốn khó
    Lên voi xuống chó
    Chó ăn đá, gà ăn sỏi: Chỉ nơi đất đai cằn cỗi, hoang vu
    Lạc nhà nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
    Đánh chó phải ngó mặt chủ
    Chó nào chủ nấy
    Chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế vườn: Muốn nói ai đó ỷ vào thế có lợi của mình mà hung hăng bắt nạt người
    Treo đầu dê, bán thịt chó
    Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang
    Chó gầy hổ mặt người nuôi
    Chó húp cháo nóng
    Giỡn chó chó liếm mặt: Chỉ sự khình nhờn do quen biết
    Chó treo, mèo đậy: Nhắc đến việc có của phải biết cách giữ gìn
    Như chó với mèo: Chỉ sự xung khắc
    Chó chạy cùng sào
    Chó tha đi, mèo tha lại
    Chó quen nhà, gà quen chuồng
    Chó lê trôn, gà gáy gở
    Chó khôn chớ cắn càn câu đối với câu: Lợn cấn ăn cám tốn
    Chó dữ mất bạn hiền
    Chó càn cắn dậu: khi nói đến kẻ hung hăng, gây gổ bừa bãi
    Chó cùng dứt dậu
    Chó dại có mùa, người dại quanh năm
    Chó đen ăn vụng/chó trắng chịu đòn: chỉ kẻ này gây lầm lỗi để người khác phải oan uổng, gánh chịu hậu quả.
    Chó cái cắn con: nói đến hình ảnh người mẹ ác nghiệt với con của mình
    Chó chạy trước hươu
    Chó tháng 3, gà tháng 7
    Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa
    Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi
    Chó già giữ xương
    Chó liền da, gà liền xương
    Chó giữ nhà, mèo bắt chuột hay Chó giữ nhà, gà gáy trống canh: Chỉ sự phân công công việc
    Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi
    Lợn rọ, chó thui
    Giả cầy người ăn như chó
    Trâu không có bắt chó kéo cày: ngoa dụ của người đời về một con vật không thể kéo cày mà lại dám thay trâu để kéo cày.
    Chó khôn tha cứt ra bãi/chó dại tha cứt về nhà
    Chó ỉa bờ giếng không sao/chó ỉa bờ ao thì bị người ta cắn cổ
    Chó ba năm mới nằm, gà ba lần vỗ cánh mới gáy
    Chó giống cha, gà giống mẹ: Một nhận xét về quy luật di truyền ở súc vật
    Mèo đàng, chó điếm: Chỉ người bất lương, lang thang vô dụng
    Không có chó bắt mèo ăn cứt
    Chó có chê cứt thì người mới chê tiền
    Chó chê cứt nát: Chê những kẻ tỏ ra khó tính hay đòi hỏi.
    Nói dai như chó nhai giẻ rách
    Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói
    Chó cùng nhà gà cùng chuồng: Ý nói những người thân thích với nhau phải thương yêu nhau.
    Hàm chó vó ngựa
    Một tiếng gọi cha, ba tiếng gọi chó
    Chó chê mèo lắm lông: Phê phán kẻ khác không nhìn thấy lỗi mình mà chỉ nhìn thấy lỗi của người khác.
    Chó chết hết chuyện
    Con không chê cha mẹ khó/Chó không chê chủ nghèo
    Khuyển mã chí tình: Tức là chó và ngựa là hai con gắn bó với người nhất
    Ra sức khuyển mã
    Sống trên đời ăn miếng dồi chó/Chết xuống âm phủ biết có hay không
    Cẩu thả
    Chó cái trốn con: Chê người mẹ không tha thiết với con.
    Chó chạy đường quai: ý nói chạy quanh quẩn mà chằng được việc gì.
    Con mèo, con chó có lông/Cây tre có mắt, nồi đồng có quai
    Bực mình con chó nhỏ sủa dai/Sủa nguyệt lâu đài, sủa bóng trăng lu
    Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá/Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn (Nguyễn Trãi)
    Trâu già gốc bụi phì hơi nắng/Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người (Nguyễn Khuyến)
    Nhất bạch nhì vàng tam khoang tứ đốm
    Chó sủa là chó không cắn
    Chó khôn chẳng sủa chỗ không
    Lắt nhắt như chó đái
    Chạy rông như chó dái
    Chó chạy đường cùng
    Chó đá vẫy đuôi: chỉ về chuyện không có thực
    Đen như chó mực
    Chó nhà nào sủa nhà ấy
    Mang chết chó cũng lè lưỡi: làm hại được người khác thì mình cũng thiệt thòi
    Chỉ chó mắng mèo: Ngầm ý nhắc nhở
    Thắt cổ mèo treo cổ chó
    Chó già, gà non
    Tuồng chó lợn hay phường chó lợn: Chỉ những hạng người đáng khinh

Chó trong không gian
Con chó đầu tiên được đưa vào không gian là con Laika của Nga trong chuyến bay năm 1957. Laika cuối cùng đã bị bốc cháy khi rơi vào bầu khí quyển.

Những chú chó nổi tiếng
Ngoài Laika đã nói ở trên, chú chó Hachiko (1924 - 1935) của Nhật Bản cũng là một biểu tượng của sự trung thành.

Thịt chó
Thịt chó là một món ăn thông thường tại một số nước châu Á như Hàn Quốc, nó vừa có tính cách bình dân lại vừa được xếp vào hàng đặc sản.Theo quan niệm của người Việt Nam thì thịt chó còn là món ăn giải xui.Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia Tây phương và Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó (và mèo) được coi là tàn bạo và bị cấm.

Tại Việt Nam, chó dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải là "chó cảnh", "chó Tây", vì theo đánh giá thì hai loại đó vừa đắt vừa không ngon. Thịt chó ngoài việc cung cấp thực phẩm còn có một giá trị y học nhất định theo quan niệm người Á Đông (trừ Nhật Bản). Thịt chó theo Trung y có vị mặn, tính ấm và có rất nhiều chất đạm. Ở Việt Nam, thịt chó được đa số người dân đặc biệt ưa chuộng. Theo công văn Cục Thú y ban hành vào ngày 23.1.2014, chỉ riêng tại Việt Nam, hàng năm ước tính có khoảng 5 triệu cá thể chó bị giết phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ thịt.

Thịt chó là thịt của các loài chó nhà, đây là một món ăn thông thường tại một số nước châu Á. Chó ở Việt Nam dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải các loại chó kiểng vì được cho là vừa đắt vừa không ngon. Thịt chó theo Trung y có vị mặn, tính ấm. Có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Mexico, Philippines, Polynesia, Đài Loan, Việt Nam, Bắc Cực, Nam Cực, và Thụy Sĩ.

Tại các quốc gia như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, thịt chó là món ăn khoái khẩu và được tiêu thụ nhiều, trong khi đó tại nhiều quốc gia Tây phương và Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó (và mèo) được coi là tàn bạo và bị cấm. Loài người không phải là loài duy nhất thích ăn thịt chó, loài báo hoa mai được biết như là những kẻ thèm thịt chó và sẵn sàng liều lĩnh xông vào nhà dân để giết chó nuôi.

Các quốc gia
Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước ăn thịt chó nhiều nhất thế giới với 5 triệu con chó được làm thịt và tiêu thụ mỗi năm. Cũng do nhu cầu tiêu thụ thịt chó lớn nên đã xảy ra hiện tượng trộm chó để đáp ứng nguồn tiêu thụ cho các quán thịt chó.

Ở miền Bắc, thịt chó được một bộ phận dân cư đặc biệt ưa chuộng. Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy, mộc tồn ("cây còn" nói lái của "con cầy").

Thịt chó thường được các đầu bếp Việt Nam chế biến thành các món: thịt luộc (biến thể là hấp hoặc phay); dồi nướng; lòng hấp; thịt nướng (biến thể là quay, chả chìa); nhựa mận (biến thể là xào lăn); xáo măng (biến thể là lẩu). Các gia vị chính để chế biến món thịt chó là: sả, riềng, mẻ, mắm tôm, lá mơ trắng. Các đồ ăn và rau thơm đi kèm: bánh đa, húng chó, hành sống, mơ tam thể, củ sả, ớt trái,.. Tuy phổ biến khái niệm "thịt chó 7 món", "cầy tơ 7 món", nhưng đó chỉ là con số có tính giả định, thực tế số lượng các món thịt chó có thể nhiều ít tùy theo người đầu bếp. Tuy thịt chó thường đi liền với húng chó, riềng, sả... nhưng đặc biệt nhất vẫn là mắm tôm.

Quan niệm người Việt mê tín dị đoan từ trước đến nay vẫn cho rằng: ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng thì sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng đó; nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái "vận đen" đi.

Chó thui
Thịt chó luộc, dồi chó dùng kèm với rau sống và mắm tôm tại một quán thịt chó bình dân ở miền Bắc Việt Nam.
Đồ uống thường sử dụng với thịt chó là rượu đế; bia.

Triều Tiên
Người Triều Tiên cũng rất thích món thịt chó. Seoul (Hàn Quốc) ngày nay có cả một "phố thịt chó". Tại Thế vận hội Seoul năm 1980 và World Cup năm 2002, chính quyền Hàn Quốc phải cho đóng cửa các nhà hàng bán món này để tránh bị những người phương Tây yêu động vật kêu gọi tẩy chay. Tuy nhiên các món thịt chó Triều Tiên có phương thức chế biến khác Việt Nam. Thường thường thịt chó được người Triều Tiên rất quý, khi mổ chó họ hay cất giữ tủ lạnh và lấy ra dùng dần bằng cách cho vào nồi cùng với các loại rau, nấm nấu dưới dạng lẩu.

Trung Quốc
Món thịt chó rất phổ biến ở Trung Quốc, có những vùng hàng năm có hẳn một lễ hội giết chó, khoảng 5000 tới 15000 con chó bị giết trong các ngày lễ này. Thịt chó cũng là một thực phẩm bổ dưỡng cho các phi công lái tàu vũ trụ của Trung Quốc.

Trung Quốc đã tổ chức lễ hội thịt chó ở thành phố Ngọc Lâm (tỉnh Quảng Tây) và gặp phải phản ứng dữ dội của các nhà hoạt động vì quyền động vật.

Philippines
Tại Philippines, thịt chó được bán với giá 1,3 đô la/kg. Việc kinh doanh, bán thịt chó mang lại cho nước này khoản doanh thu gần 3,8 triệu đô la, và gần 500.000 con chó bị giết hại mỗi năm.

Các quốc gia Tây phương
Hoàng thân Henrik của Đan Mạch, người từng có thời gian dài sống ở Việt Nam đã từng phát biểu rằng thịt chó là món khoái khẩu của ông

Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia Tây phương, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó được coi là tàn bạo và bị cấm. Đã từng có nhiều phong trào trên thế giới chống lại việc giết chó làm thịt tại Hàn Quốc, Việt Nam và có đưa thành nghị quyết Liên Hiệp Quốc.

Các quốc gia Hồi giáo
Tại nhiều quốc gia theo Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó bị coi là kinh tởm và bị cấm.

Nhưng tại Syria, do chiến tranh, nhiều người bị đói, vì thế người dân ở đây được phép ăn thịt chó để khỏi chết đói.

Lamcanh.vn

Bình luận

*
*
* Kích chuột vào hình bên cạnh để lấy mã kiểm tra ( Kích chuột vào hình để lấy mã kiểm tra )

Bình luận trên facebook

scroll top