Mèo, chính xác hơn là mèo nhà để phân biệt với các loài trong họ Mèo khác, danh pháp khoa học là Felis catus, tiếng Anh là Cat, là động vật có vú nhỏ và ăn thịt, sống chung với loài người, được nuôi để săn vật gây hại hoặc làm thú nuôi. Người ta tin rằng tổ tiên trung gian gần nhất trước khi được thuần hóa của chúng là mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica). Mèo nhà đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm, và hiện nay chúng là con vật cưng phổ biến nhất trên thế giới.
Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi, và chúng tồn tại với rất nhiều màu lông. Mèo là những con vật có kỹ năng của thú săn mồi và được biết đến với khả năng săn bắt hàng nghìn loại sinh vật để làm thức ăn. Chúng đồng thời là những sinh vật thông minh, và có thể được dạy hay tự học cách sử dụng các công cụ đơn giản như mở tay nắm cửa hay giật nước trong nhà vệ sinh.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Mèo giao tiếp bằng cách kêu "meo" - "mi-ao", gừ-gừ, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau.

Giống như một số động vật đã thuần hóa khác (như ngựa), mèo vẫn có thể sống tốt trong môi trường hoang dã như mèo hoang. Trái với quan niệm thông thường của mọi người rằng mèo là loài động vật cô độc, chúng thường tạo nên các đàn nhỏ trong môi trường hoang dã.

Sự kết hợp giữa con người và loài mèo dẫn tới việc nó thường được khắc họa trong các truyền thuyết và thần thoại tại nhiều nền văn hoá, gồm truyền thuyết và thần thoại Ai Cập cổ, Trung Quốc cổ, Na Uy, và vị Vua xứ Wales thời Trung Cổ, Hywel Dda (người Tử tế) đã thông qua bộ luật bảo vệ động vật đầu tiên trên thế giới bằng cách đặt ra ngoài vòng pháp luật hành động giết hại hay làm tổn hại tới mèo, với những hình phạt nặng nề cho những kẻ vi phạm. Tuy nhiên, mèo thỉnh thoảng bị coi là ma quỷ, ví dụ như nó không mang lại may mắn hay thường đi liền với những mụ phù thuỷ trong nhiều nền văn hoá Trung cổ.

Cho đến gần đây, mèo được cho rằng đã bị thuần hóa trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, nơi chúng được thờ cúng. Một nghiên cứu năm 2007 chỉ ra rằng tất cả mèo nhà có thể xuất phát từ Mèo hoang châu Phi tự thuần hóa (Felis silvestris lybica) vào khoảng 8000 TCN, tại Cận Đông. Bằng chứng gần đây chỉ ra sự thuần hóa mèo là thi thể một con mèo con được chôn với chủ của nó cách đây 9.500 năm tại Síp.

Mèo được xem như một trong mười hai con giáp tại Việt Nam, thường gọi là "Mão" hay "Miêu".

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Phân loại khoa học
Mèo nhà được Carolus Linnaeus đặt tên là Felis catus trong cuốn Systema Naturae xuất bản năm 1758 của ông. Johann Christian Daniel von Schreber đặt tên mèo rừng là Felis silvestris năm 1775. Hiện nay mèo nhà được coi là một phụ loài của mèo rừng: vì thế theo quy định ưu tiên chặt chẽ của Quy tắc đặt tên động vật quốc tế tên của loài này phải là F. catus bởi vì sách của Linnaeus được xuất bản trước. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như mọi nhà nghiên cứu sinh vật học sử dụng F. silvestris cho các loài hoang dã, dùng F. catus cho riêng các loài đã thuần hoá.

Tại quan điểm 2027 (xuất bản trong Tập 60, Phần 1 của Tập san đặt tên động vật, ngày 31 tháng 3, 2003) Cao ủy quốc tế về đặt tên động vật "đã duy trì việc sử dụng 17 tên riêng dựa trên các loài hoang dã, vốn đã xuất hiện trước hay đồng thời với những tên dựa trên các loài đã thuần hoá", vì thế xác nhận F. silvestris sử dụng cho mèo rừng và F. silvestris catus cho các phân loài đã thuần hóa của nó. (F. catus vẫn sử dụng được nếu mèo nhà được coi là một loài riêng.)

Johann Christian Polycarp Erxleben đã đặt tên mèo nhà là Felis domesticus trong cuốn Anfangsgründe der Naturlehre and Systema regni animalis năm 1777. Cái tên này, và các biến thể của nó như Felis catus domesticus và Felis silvestris domesticus, cũng thường xuất hiện, nhưng chúng không phải là các tên khoa học được chấp nhận theo Quy tắc đặt tên động vật quốc tế.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Đặc điểm
Đặc điểm thể chất
Thông thường mèo nặng từ 2,5 đến 7 kg (5,5–16 pao); tuy nhiên, một số giống như Maine Coon có thể vượt quá 11,3 kg (25 pao). Một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg (50 pao) vì được cho ăn quá nhiều. Điều này rất có hại cho sức khỏe mèo—khiến chúng có thể bị đái đường, đặc biệt đối với mèo đực đã thiến—có thể ngăn chặn tình trạng này thông qua biện pháp ăn kiêng và tập luyện (chạy nhảy), đặc biệt đối với những chú mèo luôn ở trong nhà. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg - 4,0 pao).

Ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống 14 tới 20 năm, dù chú mèo già nhất từng biết đã sống 35 năm. Mèo nhà thường sống lâu hơn nếu ta không cho chúng ra ngoài (giảm nguy cơ bị thương tích khi đánh nhau và tai nạn cũng như dễ mắc bệnh) và nếu chúng bị cắt buồng trứng hay hoạn. Những chú mèo đực bị hoạn tránh được ung thư tinh hoàn, mèo cái bị cắt buồng trứng không bị ung thư buồng trứng nhờ vậy giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Mèo hoang trong môi trường đô thị hiện đại thường chỉ sống hai tới ba năm hoặc ít hơn. Mèo hoang trong các nhóm có thể sống lâu hơn; tổ chức British Cat Action Trust đã thông báo về trường hợp một con mèo hoang cái 19 tuổi. Chú mèo hoang sống lâu nhất là "Mark", do Hội từ thiện Bảo vệ Mèo Anh nuôi, sống tới 26 tuổi.

Mèo là những vận động viên điền kinh. Những kẻ chạy nước rút tài giỏi, chúng có thể đạt tới tốc độ 30 dặm một giờ trên những khoảng cách ngắn. Mèo có thể nhảy cao tới đỉnh rào hay một bức tường cao 7 ft từ tư thế đứng yên. Mèo nhà là một trong số ít loài vật bốn chân không có các xương đòn cứng. Điều này cho phép mèo chui qua lỗ hổng có kích thước bằng đầu chúng.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Tai
Với 32 cơ riêng biệt điều khiển hướng nghe của tai; mèo có thể vểnh mỗi tai theo một hướng khác nhau. Nhờ tính năng động cao như vậy, mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Không giống như chó, các giống mèo có tai cụp rất hiếm. (Mèo giống Scottish Fold là một loài đã biến đổi như vậy.) Khi giận dữ hay sợ hãi, mèo thường chĩa tai về phía sau, đồng thời phát ra các âm thanh gầm gừ hay tiếng rít. Mèo cũng chĩa tai về phía sau khi chúng chơi đùa, hay thỉnh thoảng khi chú ý tới một tiếng động phát ra từ phía sau nó.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Sự thuần hoá
Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12–16 giờ, mức trung bình 13–14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày.

Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và chủ yếu ngủ vào sáng sớm, trưa và chiều.

Tính khí mèo thay đổi tùy theo giống, hoàn cảnh sống và giới tính, mèo cái thường quấn chủ hơn mèo đực. Mèo lông ngắn thường gầy và ưa hoạt động, mèo lông dài thường to và lười nhác.

Nhiệt độ cơ thể mèo trong khoảng 38 tới 39 °C (101 tới 102,2 °F). Một con mèo bị coi là sốt (cao) nếu có thân nhiệt ở mức 39,5 °C (103 °F) hay cao hơn, hay giảm nhiệt nếu thấp hơn 37,5 °C (100 °F). Để so sánh, thân nhiệt thông thường của cơ thể người xấp xỉ 37 °C (98,6 °F). Một chú mèo nhà bình thường có nhịp tim khoảng 140 đến 220 nhịp một phút, và nó phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng kích động hay không của mèo. Khi mèo đang nghỉ ngơi, nhịp tim bình thường trong khoảng 150 - 180 nhịp một phút, khoảng gấp đôi con người.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Chân
Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì giống như mọi giống thuộc loài mèo khác, chúng ghi nhận trực tiếp; có nghĩa là chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên dấu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề.

Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, loại trừ loài báo gêpa, mèo có vuốt thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Chúng thường giương vuốt khi săn mồi, tự vệ, hay leo trèo, "nhào lộn", hay để tăng ma sát khi bước đi trên các bề mặt trơn (khăn trải giường, thảm dày, vân vân). Các vuốt cong có thể bị mắc vào thảm hay các tấm vải dày, khiến mèo bị thương nếu chúng không thể tự gỡ.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Trèo cao và ngã
Đa số các giống mèo đều thích trèo cao hay ngồi ở các vị trí cao. Các nhà nghiên cứu hành vi động vật đã đưa ra một số giải thích điều này, thông thường nhất là, "độ cao khiến mèo có điểm quan sát tốt hơn. Từ vị trí đó, chúng có thể giám sát vương quốc của mình và biết mọi hoạt động của con người cũng như các con vật khác. Trong môi trường hoang dã, một vị trí trên cao cũng được dùng làm nơi ẩn mình để săn mồi." Vì thế độ cao cũng có thể mang lại cho mèo cảm giác an toàn và uy thế.

Tuy nhiên, sự ưa chuộng độ cao này có thể là một cách thử nguy hiểm đối với quan niệm thông thường rằng một chú mèo "luôn rơi chân xuống trước". Cơ quan bảo vệ động vật Hoa Kỳ đã cảnh báo những người chủ nên canh chừng những vị trí nguy hiểm trong nhà họ để tránh "hội chứng trèo cao", có thể khiến một chú mèo quá tự tin bị ngã từ độ cao quá lớn.

Khi rơi, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là "phản xạ thăng bằng." Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Vì thế, những cú ngã từ trên cao (nhiều tầng) ít gây nguy hiểm hơn những cú ngã từ độ cao chỉ vài mét. Nhiều trường hợp đã được ghi nhận cho thấy những chú mèo ngã từ độ cao lớn (5 đến 10 tầng) vẫn sống sót, bình yên vô sự. Một số giống không có đuôi nên không có khả năng lấy lại thăng bằng này, bởi vì mèo quật đuôi và dựa trên mômen động lượng để lấy thăng bằng chuẩn bị tiếp đất.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Giác quan
Việc đánh giá các giác quan của bất kỳ một loài vật nào cũng là điều khó khăn bởi vì không bao giờ có sự giao tiếp trực tiếp (ví dụ, đọc to các chữ trên Bảng Snellen) giữa đối tượng và người nghiên cứu.

Trong khi các giác quan như khứu giác và thính giác của mèo không nhạy bén như của chuột, thì chúng lại vượt trên con người ở nhiều điểm. Các đặc điểm đó cộng với những khả năng thị giác, vị giác, và xúc giác khiến chúng trở thành một loại đặc biệt nhạy cảm trong giới động vật có vú.

Mèo Ba Tư
Mèo Ba Tư

Thị giác
Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Mèo, cũng như chó, có màng trạch để phản chiếu lại ánh sáng tới võng mạc. Khi đó, khả năng nhìn của mèo được tăng lên khi ở trong bóng tối, tạo ra một màng lưới thị giác sắc sảo. Nhưng vào ban ngày hoặc chỗ có nhiều ánh sáng, tròng đen của mèo khép lại hẹp, làm số lượng ánh sáng chiếu vào ít đi, tránh bị lóa và cải thiện khả năng quan sát. Màng trạc và một số bộ phận khác giúp mèo có 1 sự dò tìm tốt hơn so với con người. Sự biến đổi màu sắc của mắt mèo trong các tấm ảnh gần giống với sự tương tác giữa ánh sáng và màng trạch.

Thông thường mèo có thị trường khoảng 200°, so với 180° ở con người, với trường trùng lặp (ảnh trùng lặp của hình ảnh thu được từ hai mắt) nhỏ hơn con người. Giống như đa số các loài vật ăn thịt khác, mắt của chúng hướng về phía trước để có được hình ảnh có chiều sâu tuy phải hy sinh độ rộng thị trường. Thị trường phụ thuộc rất nhiều vào vị trí mắt, nhưng cũng có thể phụ thuộc ở cấu tạo mắt. Thay vì kiểu con ngươi tròn (optic fovea) vốn giúp con người có được tầm nhìn tập trung tốt hơn, mắt mèo có một dải thị giác. Mèo rõ ràng có thể phân biệt các màu sắc, đặc biệt ở cự ly gần, nhưng không hoàn toàn rõ rệt.

Mèo có mi mắt thứ ba, đó là 1 màng mỏng xuất hiện khi mắt mèo mở. Màng này thường đóng lại từ từ khi mèo bị bệnh, nhưng chúng lại rất rõ ràng khi mèo buồn ngủ. Nếu 1 con mèo từ lúc mới sinh đã có mí thứ 3 rõ ràng thì có nghĩa là nó phải đến gặp bác sĩ thú y.

Mắt mèo có rất nhiều màu nhưng phổ biến là vàng, xanh lá và cam. Mắt xanh dương cũng xuất hiện ở giống mèo Siamese, tuy nhiên cũng có ở những con mèo bị bạch tạng. Nếu một con mèo bạch tạng có đôi mắt xanh dương thì thường sẽ bị điếc; tuy nhiên, mắt màu cam cũng báo hiệu tai của nó có vấn đề. Mèo bạch tạng có 1 mắt xanh dương 1 mắt cam cũng thường điếc như mèo có đôi mắt xanh.

Mèo Ba Tư
Mèo Ba Tư

Thính giác
Con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Mèo có thể nghe ở mức cao hơn 2 quãng so với con người, và một nửa quãng so với chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Mèo có thể xác định vị trí một vật chính xác trong vòng 7.5 cm (3 inches) khi nguồn phát âm ở khoảng cách khoảng 1 mét (điều này giúp chúng định vị con mồi, v.v...).

Mèo Ba Tư
Mèo Ba Tư
Mèo Ba Tư
Mèo Ba Tư

Khứu giác
Khứu giác của một con mèo nhà mạnh gấp 14 lần so với của con người Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo còn có một cơ quan đánh hơi ở vòm miệng gọi là vomeronasal, hay cơ quan Jacobson. Khi một con mèo chun mõm, hạ thấp cằm, và nâng lưỡi lên một chút, dó là lúc nó đang sử dụng cơ quan vomeronasal. Hành động này gọi là "gaping", "sneezing", hay "flehming". Gaping tương đương với phản ứng Flehmen ở các động vật khác như chó, ngựa và mèo lớn.

Xúc giác
Xúc giác của mèo khá nhạy bén.

Vị giác
Chỉ có mèo và thỏ là không thể cảm nhận được vị ngọt do thiếu gen cần thiết cho việc này. Đặc biệt không được cho mèo ăn sô cô la.

Trí nhớ
Một nghiên cứu mới tìm thấy mèo chỉ có thể nhớ được những thông tin nhất định trong vòng 10 phút. Nghiên cứu ban đầu nhằm so sánh trí nhớ hành động của mèo với trí nhớ hình ảnh và tìm thấy mèo nhớ bằng cơ thể tốt hơn là bằng mắt, khi chúng gặp một vật thể trên đường. Khi một con mèo bước qua một đồ chơi hoặc chiếc giày đặt ở cửa trên đường tới đĩa thức ăn, nó phải phối hợp bước đi của cả chân sau và chân trước. "Động vật, cũng như con người, ghi nhớ một cách vô thức vị trí đồ vật theo sự tương xứng với cơ thể khi họ bước đi, sự ghi nhớ này phụ thuộc phần lớn vào các tín hiệu liên quan tới sự chuyển động cơ thể", nhà nghiên cứu Keir Pearson tại Đại học Alberta, Canada, nói. Mặc dù các nhà nghiên cứu đã biết được điều này, họ vẫn băn khoăn làm thế nào mà mèo nhớ chính xác phải nhấc chân sau lên sau khi chân trước đã tránh một vật cản. Để tìm hiểu sự phối hợp của mèo, các nhà nghiên cứu tìm hiểu chúng có thể nhớ việc mình vừa bước qua một cản trở trong bao lâu. Họ khiến con mèo dừng lại khi chân trước đã bước qua vật cản, nhưng chân sau chưa bước tới. Tiếp đến họ đánh lạc hướng con mèo bằng đồ ăn và dịch chuyển chướng ngại vật để xem con vật phản ứng thế nào. Mèo nhớ được mình vừa bước qua vật cản trở trong ít nhất 10 phút, nên nhấc chân sau lên để tránh đồ vật, kể cả khi nó không còn ở đó. Để so sánh trí nhớ hoạt động của mèo với trí nhớ hình ảnh, họ lặp lại thí nghiệm nhưng lần này dừng con mèo ngay khi chúng chuẩn bị nhấc chân trước qua vật cản. Kết quả cho thấy chỉ sau vài giây, con mèo không thể nhớ những gì chúng đã nhìn thấy nhưng chưa kịp làm: khi vật thể bị bỏ đi, con mèo quên mất là nó đã ở đó và tiếp tục đi. Nghiên cứu trên ngựa và chó cũng cho kết quả tương tự. Trí nhớ này đóng vai trò trong khả năng con người định vị vật thể trong bóng tối hoặc nhớ lại họ đã để xe ở chỗ nào trong bãi đỗ xe vào buổi sáng. Bằng việc đi bộ từ chỗ để xe vào văn phòng, bạn đã củng cố ký ức về vị trí của chiếc xe trong trí não và không phải mất nửa tiếng để tìm nó.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Bộ xương
Bô xương của mèo hơi nhỏ và đầu xương không giống với xương người. Xương sống của mèo có nhiều đốt hơn chúng ta để di chuyển dễ dàng và tránh được thương tổn. Xương đuôi rất dài để giữ thăng bằng cho việc di chuyển. Toàn bộ (Tổng cộng 500 cơ xương) gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 lưng 3 hông và 14-28 đốt sống đuôi, mèo có thể cuộn tròn cơ thể hoặc "giảm sóc, giảm nhẹ sang chấn" khi rơi từ độ cao nguy hiểm. Bộ răng và hàm của mèo đầy mãnh lực cắn xé mồi. Khi bắt mồi, các móng vuốt giương ra khỏi đệm thịt để cào xé mồi.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Thông tin
Săn mồi và chế độ ăn uống
Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn,cóc nhái, cá... vũ khí săn mồi của mèo là móng vuốt ở đầu ngón chân có chiều dài hơn 1 phân, hình cong bán nguyệt, đầu móng vuốt nhỏ và nhọn sắc bén. Móng vuốt của loài mèo là vũ khí khá lợi hại đối với đối tượng của nó đang săn mồi. Để săn mồi, khi gặp đối tương hay con vật nó cần bắt làm mồi, loài mèo thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và cào lấy con mồi. Loài mèo thường bắt lấy mồi khá hiểm và độc đáo bằng cách duỗi móng ở hai bàn chân trước ra và túm lấy vào gáy đối tượng. Đây là cách săn mồi khá ấn tượng và hiệu quả của loài mèo và sau đó dùng miệng cắn lên đầu con mồi cho đến chết mới thả ra.

Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm. Thế nhưng dù là loài ăn thịt thú rừng cá là loại thức ăn khoái khẩu nhất của họ hàng nhà mèo. Con người thường cho mèo ăn cá trộn với cơm. Đây là thứ thức ăn mà mèo thích vì nó có mùi tanh của cá. Loài mèo nhà cũng ăn thịt thú rừng nhưng thực tế cho thấy rằng nó thích ăn cá hơn nhiều. Mèo thường đến bên bờ ao uống nước và bắt cá. Cá và chuột luôn là thức ăn được ưa chuộng nhất của Mèo.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Vệ sinh
Mèo được biết đến nhờ sự sạch sẽ của nó. Loài mèo luôn biết tự bảo vệ cơ thể của nó tránh những nơi ẩm ướt, nó là động vật không lấy mặn mà gì với tắm, thường nó không thích lông trên cơ thể của nó bị ướt hay có những tác động của các vật khác dính lên cơ thể của nó khi nó vô tình đi vào một lùm bụi cây qua một bờ ao hay rúc vào nơi kín đáo. Tất cả những nơi đó có khả năng gây vết tích lên lông của nó. Ngay cả con người vuốt tay lên người nó cũng có thể động lại mùi khác lạ. Chính vì vậy, nó được mệnh danh là một trong các loài thú sạch sẽ nhất.

Mèo rửa mặt
Mèo rửa mặt

Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra và tiết nước bọt vào chân của nó và bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Loài mèo là thú vật luôn coi trọng vệ sinh cơ thể.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Môi trường
- Mèo rừng (hoang dã): Môi trường sống của mèo hoang là ở những nơi rừng rậm, dễ dàng leo trèo trên các thân cây, bắt mồi kiếm ăn, đặc biệt là kiếm ăn vào buổi tối, đó cũng là lý do mèo hoang dã không sống ở những nơi có nhiều động vật quá nguy hiểm.

- Mèo nhà: trước đây mèo được nuôi để bắt chuột, xua đuổi những con côn trùng,... nhưng dường như chúng ngày càng giảm khả năng đó, vì môi trường không còn quá nhiều khắc nghiệt như trước, chúng giờ đây được nuôi với xu hướng làm cảnh nhiều hơn.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Sinh sản và di truyền
Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng... mèo thường sống đơn độc. Đến thời kỳ sinh sản mèo cái thường đi tìm mèo đực. Trong thời gian này mèo cái có bộ lông mới bóng mượt, có mùi và tiếng kêu đặc biệt để hấp dẫn mèo đực.

Số lượng quá đông
Theo Hiệp hội bảo vệ động vật Mĩ, mỗi năm có 3 đến 4 triệu chó mèo ở Mỹ được giúp đỡ để ra đi một cách nhẹ nhàng và số lượng còn nhiều hơn thế đang được nuôi nhốt trong lồng ở các trung tâm cứu hộ bởi vì số thú vật được sinh ra tăng quá nhanh so với số hộ gia đình. Việc triệt sản hay thiến vật nuôi có thể giúp làm giảm tình trạng số lượng quá đông. Hiệp hội bảo vệ động vật địa phương, SPCA's và những tổ chức bảo vệ động vật khác khuyến cáo cư dân nên triệt sản thú cưng của họ và nên nhận nuôi thú từ các trung tâm cứu hộ thay vì mua thú cưng.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Các loại mèo nhà
Mèo Abyssinian
Mèo American Ringtail
Mèo Balinese
Mèo Australian Mist
Mèo American Wirehair
Mèo American Shorthair
Mèo American Curl
Mèo American Bobtail
Mèo Ashera
Mèo Angora
Mèo Bambino
Mèo Bengal
Mèo Birman
Mèo Bombay
Mèo British Longhair
Mèo British Shorthair
Mèo Burmese
Mèo California Spangled
Mèo Chartreux
Mèo Chausie
Mèo Cornish Rex
Mèo Cymric
Mèo Dwarf
Mèo Don Sphynx
Mèo Devon Rex
Mèo Egyptian Mau
Mèo Elf
Mèo Exotic Shorthair
Mèo Havana Brown
Mèo Himalayan
Mèo Japanese Bobtail
Mèo Javanese
Mèo Maine Coon
Mèo LaPerm
Mèo Lambkin
Mèo Kurilian Bobtail
Mèo Korat
Mèo Kinkalow
Mèo Moggie (hay còn được gọi là mèo Household – tức mèo không thuần chủng)
Mèo Manx
Mèo Miniature
Mèo Mimskin
Mèo Munchkin
Mèo Napoleon
Mèo Nebelung
Mèo Norwegian Forest
Mèo Ocicat
Mèo Ojos Azules
Mèo Oriental Shorthair
Mèo Perian (hiện đại)
Mèo Persian Doll Face (hay còn được gọi là Doll Face Perian – một dạng mèo Persian truyền thống)
Mèo RagaMuffin
Mèo Pixie-bob
Mèo Peterbald
Mèo Ragdoll
Mèo Russian Blue
Mèo Safari
Mèo Selkirk Rex
Mèo Scottish Fold
Mèo Savannah
Mèo Serengeti
Mèo Serval
Mèo Seychellois
Mèo Siamese (hiện đại)
Mèo Siberian
Mèo Singapura
Mèo Skookum
Mèo Snowshoe
Mèo Sokoke
Mèo Siamese (truyền thống)
Mèo Somali
Mèo Sphynx
Mèo Stray (đây cũng là một dạng mèo không thuần chủng như mèo Moggie)
Mèo Teacup
Mèo Thai (hay còn được gọi là mèo Thailand)
Mèo Tiffany
Mèo Tonkinese
Mèo Toyger
Mèo Turkish Angora
Mèo Turkish Van
Mèo Ural Rex
Mèo York Chocolate

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Mèo hoang
Mèo hoang là những mèo đã thuần hóa nhưng trở về đời sống hoang dã, không quen thuộc với con người và tự do đi lang thang ở các khu vực đô thị hay nông thôn, cần phân biệt với mèo rừng là loài mèo chưa được thuần hóa. Mèo hoang có thể sống một mình, nhưng hầu hết được tìm thấy trong các nhóm lớn, trong đó chiếm một lãnh thổ cụ thể và thường được kết hợp với một nguồn thực phẩm.

Một con mèo hoang
Một con mèo hoang

Lịch sử và Thần thoại
Các nhà khoa học thường cho rằng Ai Cập cổ đại là nguồn gốc của việc thuần hóa mèo, dựa vào những bức họa vẽ mèo nhà ở Ai Cập có niên đại khoảng 3600 năm. Tuy nhiên, năm 2004, một ngôi mộ thuộc thời kỳ đồ đá mới được khai quật ở Shillourokambos, tại Síp, có chứa bộ xương của một con người và một con mèo nằm ngay ngắn cạnh nhau. Người ta ước chừng ngôi mộ này đã được 9500 tuổi, trở thành minh chứng có từ sớm nhất cho việc quan hệ giữa người và mèo. Con mèo trong mộ có kích thước lớn và gần giống loại mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica), hơn là mèo nhà hiện nay. Sự khám phá này cùng với những nghiên cứu về di truyền cho thấy có thể mèo được thuần hóa ở Trung Đông, vùng Trăng lưỡi liềm màu mỡ vào giai đoạn phát triển nông nghiệp rồi sau đó những người này đã đem mèo đến Síp và Ai Cập.

Ở Ai Cập cổ đại, mèo là loài vật thần thánh, với truyền thuyết về vị nữ thần Bast thường được miêu tả trong hình dạng một con mèo, khi chiến tranh thì hóa thành một con sư tử cái. Người La Mã cổ đại thường được cho là những người đã đưa loài mèo nhà từ Ai Cập đến châu Âu; ở Roman Aquitaine, một văn bia thuộc khoảng thế kỷ thứ 1 hoặc 2 mô tả lại hình ảnh một bé gái ôm mèo là một trong hai minh chứng sớm nhất về việc mèo xuất hiện ở La Mã. Tuy nhiên, vì mèo đã hiện diện ở nước Anh vào cuối thời kỳ đồ sắt, nên có thể mèo đã được nuôi ở châu Âu trước thời Đế chế La Mã. Mèo nhà đã trở nên phổ biến khắp thế giới trong suốt Thời đại khám phá, vì chúng được đưa lên những chiếc thuyền buồm để diệt chuột trong khoang thuyền và được xem là loài mang lại may mắn.

Một số tôn giáo cổ tin rằng mèo là những linh hồn cao quý, người bạn đồng hành, hay người hướng dẫn cho con người, và rằng mèo rất thông thái nhưng do không biết nói nên không thể gây ảnh hưởng đến những quyết định của con người. Tại Nhật Bản, tượng mèo Maneki Neko là biểu tượng của sự phú quý, giàu có. Còn ở đạo Hồi tuy không có động vật thần thánh nào, nhưng một vài quyển sách đã ghi lại rằng thánh Muhammad có nuôi một con mèo cưng tên là Muezza. Thánh yêu mèo đến mức "Người thà không mặc áo khoác còn hơn là làm phiền một con mèo đang ngủ trên chiếc áo".

Freyja — nữ thần của tình yêu, sắc đẹp và sự sinh sôi trong thần thoại Bắc Âu — được miêu tả là thường cưỡi trên một chiếc xe kéo bởi mèo.

Bên cạnh đó, nhiều nền văn hóa lại có cái nhìn tiêu cực về loài mèo. Điển hình là niềm tin về việc một con mèo đen băng ngang đường người nào đang đi thì người đó sẽ gặp xui xẻo, hoặc chuyện mèo là những phụ tá cho các mụ phù thủy, giúp các mụ gia tăng công lực. Điều này dẫn đến việc lùng diệt mèo rộng khắp châu Âu trong thời trung cổ. Chính việc tiêu diệt mèo đã làm tăng số lượng chuột, góp phần gây ra Cái chết Đen lây lan bởi bọ chét trên người những con chuột bệnh. Việc tàn sát mèo ở Ypres trong thời Trung Cổ nay được tưởng nhớ bằng lễ hội mèo Kattenstoet tổ chức 3 năm một lần.

Ở Việt Nam cũng có nhiều người mê tín rằng nếu mèo đen nhảy qua xác một người mới chết, người đó sẽ hóa thành quỷ nhập tràng.

Dựa theo một bí ẩn trong nhiều nền văn hóa, mèo là loài có nhiều mạng sống. Ở nhiều quốc gia, người ta thường cho rằng mèo có chín mạng, còn tại một số khu vực nói tiếng Tây Ban Nha thì cho rằng mèo có bảy mạng, riêng trong văn hóa Ả rập và Thổ Nhĩ Kỳ, mèo có sáu mạng. Bí ẩn này xuất phát từ sự mềm dẻo và nhanh nhẹn của mèo khi thoát khỏi những tình huống nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Đồng thời còn do mèo thường rơi xuống chạm đất bằng chân, sử dụng phản xạ theo bản năng để điều chỉnh cơ thể nhằm hạn chế chấn thương. Tuy vậy, mèo vẫn có thể bị thương hoặc chết khi rơi xuống từ một độ cao nhất định.

Hình tượng con Mèo trong văn hóa
Mèo nhà đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm, Cho đến gần đây, mèo được cho rằng đã bị thuần hóa trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, nơi chúng được thờ cúng và hiện nay chúng là con vật cưng phổ biến nhất trên thế giới với hơn 600 triệu con.[4] và mèo đã trở thành con vật quen thuộc của nhiều gia đình, là người bạn thân thiết của trẻ con và các thiếu nữ.

Sự kết hợp giữa con người và loài mèo dẫn tới việc nó thường được khắc họa trong các truyền thuyết và thần thoại tại nhiều nền văn hoá, gồm truyền thuyết và thần thoại Ai Cập cổ, Trung Quốc cổ, Na Uy, và vị Vua xứ Wales thời Trung Cổ, Hywel Dda (người Tử tế) đã thông qua bộ luật bảo vệ động vật đầu tiên trên thế giới bằng cách đặt ra ngoài vòng pháp luật hành động giết hại hay làm tổn hại tới mèo, với những hình phạt nặng nề cho những kẻ vi phạm.

Mèo là một trong mười hai con giáp tại Việt Nam, đại diên cho năm Mão (chữ Hán: 卯). Tại Trung Quốc con giáp ứng với năm Mão là con thỏ. Theo Philippe Papin thì vì âm đọc của chữ "mão" 卯 trong tiếng Hán gần giống với "mèo" cho nên người Việt đã lấy luôn con mèo làm con giáp đại diện cho năm Mão.

Mèo thỉnh thoảng bị coi là ma quỷ, ví dụ như nó không mang lại may mắn thậm chí là điềm xui xẻo hay thường đi liền với những mụ phù thuỷ trong nhiều nền văn hoá Trung cổ đặc biệt là những con mèo đen. Trong nhiều nền văn hóa của Thế giới, mèo có khuynh hướng được xem là sự ẩn dụ của nữ giới, và tại Nhật người ta cũng ví Nekomata với sự tà ác của người đàn bà.

Tổng quan
Mèo là động vật nhỏ thuộc loại thú, có cùng họ với hổ báo, được nuôi trong nhà để bắt chuột hay làm cảnh. Mèo hiền lành, nhanh nhẹn, khôn ngoan, leo trèo giỏi và mắt rất tinh nhanh, đặc biệt là trong bóng đêm, mắt mèo rất tỏ. Mèo có nhiều loại và có nhiều bộ lông khác nhau. Tuỳ theo bộ lông mà người ta gọi mèo trắng (lông màu trắng), mèo mướp (lông màu xám có vằn đen nhạt), mèo nhị thể (lông hai màu thường là đen trắng hoặc vàng xám hay vàng trắng), mèo tam thể (lông ba màu thường là vàng, trắng, xám…), mèo mun (lông đen tuyền)… Mèo mun có nơi gọi là linh miêu.

Trong các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, ý nghĩa biểu tượng của mèo rất không thuần nhất, vừa xấu vừa tốt. Điểu này có thể giải thích bằng thái độ vừa dịu dàng, vừa vờ vĩnh của con vật này. Trong thế giới đạo Phật, mèo bị chê trách là con vật đã cùng với con rắn không mảy may xúc động trước sự từ trần của Đức Phật. Ở Ấn Độ, người ta tìm thấy tượng những con mèo khổ hận biểu thị cho phúc lạc của thế giới động vật. Ở Trung Quốc cổ đại, mèo hay được xem như một con vật báo lành và người ta bắt chước điệu bộ của nó cũng như con báo, trong các điệu múa nông nghiệp. Ở Campuchia, người ta vẫn nhốt mèo vào lồng rồi vừa đi vừa ca hát, rước nó từ nhà này sang nhà kia để cầu mưa. Trong Kabbale (truyền thuyết của đạo Do Thái) cũng như trong đạo Phât, mèo được liên kết với rắn: chỉ sự tội lỗi, sự lạm dụng những phúc lợi ở thế gian này.

Lịch sử
Các nhà khoa học thường cho rằng Ai Cập cổ đại là nguồn gốc của việc thuần hóa mèo, dựa vào những bức họa vẽ mèo nhà ở Ai Cập có niên đại khoảng 3600 năm. Tuy nhiên, năm 2004, một ngôi mộ thuộc thời kỳ đồ đá mới được khai quật ở Shillourokambos, tại Síp, có chứa bộ xương của một con người và một con mèo nằm ngay ngắn cạnh nhau. Người ta ước chừng ngôi mộ này đã được 9500 tuổi, trở thành minh chứng có từ sớm nhất cho việc quan hệ giữa người và mèo. Con mèo trong mộ có kích thước lớn và gần giống loại mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica), hơn là mèo nhà hiện nay. Sự khám phá này cùng với những nghiên cứu về di truyền cho thấy có thể mèo được thuần hóa ở Trung Đông, vùng Trăng lưỡi liềm màu mỡ vào giai đoạn phát triển nông nghiệp rồi sau đó những người này đã đem mèo đến Síp và Ai Cập.

Thờ thần mèo ở Ai Cập
Thờ thần mèo ở Ai Cập

Ở Ai Cập cổ đại, mèo là loài vật thần thánh, với truyền thuyết về vị nữ thần Bast thường được miêu tả trong hình dạng một con mèo, khi chiến tranh thì hóa thành một con sư tử cái. Khi mèo chết, cả gia đình đi đưa tang và cơ thể của chúng sẽ được ướp xác như con người.

Người La Mã cổ đại thường được cho là những người đã đưa loài mèo nhà từ Ai Cập đến châu Âu; ở Roman Aquitaine, một văn bia thuộc khoảng thế kỷ thứ 1 hoặc 2 mô tả lại hình ảnh một bé gái ôm mèo là một trong hai minh chứng sớm nhất về việc mèo xuất hiện ở La Mã. Tuy nhiên, vì mèo đã hiện diện ở nước Anh vào cuối thời kỳ đồ sắt, nên có thể mèo đã được nuôi ở châu Âu trước thời Đế chế La Mã. Mèo nhà đã trở nên phổ biến khắp thế giới trong suốt Thời đại khám phá, vì chúng được đưa lên những chiếc thuyền buồm để diệt chuột trong khoang thuyền và được xem là loài mang lại may mắn., tại thời điểm đó mèo được coi là dấu hiệu của may mắn.

Tranh khắc gỗ làng Đông Hồ ở Việt Nam có hai bức tranh "Đám cưới chuột" và "Trạng chuột vinh quy" trong đó có vẽ hai con chuột đem cá và chim đến cho mèo. Hai bức tranh này gần giống nhau, dựa theo những chữ Hán và chữ Nôm trong tranh mà người ta sẽ gọi là "Đám cưới chuột" hay "Trạng chuột vinh quy". Trong bức tranh "Đám cưới chuột" trên cái biển do con chuột cầm đề hai chữ "nghênh hôn" 迎婚, cạnh con chuột cưỡi ngựa có hai chữ Nôm "chú rể" 注婿, bên phải con mèo có chữ "miêu" 猫. Trong bức tranh "Trạng chuột vinh quy" thì trên biển đề hai chữ "tiến sĩ" 進士, trên lá cờ do con chuột đi đầu cầm có hai chữ "vinh quy" 榮歸, bên trái con mèo có ba chữ "miêu thủ lễ" 貓守礼.

Người H'Mông còn được người Việt gọi là người Mèo. Không có bằng chứng cho thấy "mèo" trong "người Mèo" có nghĩa là "con mèo". Ở Lào họ được gọi là "Mẹo". Tại Trung Quốc người H'Mông được gọi là "Miêu", viết bằng chữ Hán là "苗", tự dạng và ý nghĩa không giống với chữ "miêu" 猫 có nghĩa là "con mèo". Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, giống như ở nhiều nước khác, mèo được xem là một sinh vật tượng trưng cho sự xảo quyệt và nỗi sợ hãi và được gán cho nhiều năng lực siêu nhiên. Tuy nhiên, trong khi những con mèo đuôi dài được xem là miêu hựu (猫又), một dạng "mèo ác", thì mèo cộc đuôi Nhật Bản được xem như là biểu tượng của triển vọng tốt đẹp và tương lai hứa hẹn. Hình tượng maneki neko nổi tiếng - biểu thị cho may mắn - thường thể hiện một con mèo cộc đuôi trong tư thế ngồi bằng hai chân sau với một chân trước giơ lên cao. Mèo cộc đuôi Nhật Bản cũng xuất hiện nhiều trong hội họa truyền thống của nước này.

Nekomata được cho do mèo nhà nhiều tuổi (40 hoặc 100 tuổi trở lên) biến hóa thành. Trong tiếng Nhật, "neko" nghĩa là con mèo, "mata" nghĩa là chạc cây phân nhánh, đầu chĩa ba phân nhánh, vật có dạng hình chạc cây. Theo một thuyết thì đuôi của Nekomata phân làm hai nhánh ở đầu nên nó có tên gọi như vậy. Nhưng cũng có khi nó được miêu tả như là hai cái đuôi độc lập tách ra từ một gốc. Khi Nekomata nguyền rủa ểm hại người thì nó đứng chồm trên hai chân để rủa người đó. Người ta cho rằng Nekomata hiểu và nói được tiếng người, sau khi ăn thịt người thì nó sẽ biến hóa thành người đó. Nekomata cái thỉnh thoảng lại xuất hiện trong giấc mộng của nam nhân và đoạt hết tinh khí của họ. Người Nhật còn tin rằng những người thường hay hành hạ mèo sẽ bị nó ám hại. Nếu con Nekomata tu luyện thêm thì nó sẽ sống lâu đến bất tận và được gọi là Nekoshō (猫魈). Tại Trung Quốc cũng có truyền thuyết về loài yêu quái tên là "tiên ly" (âm Nhật đọc là Senri) có nhiều điểm tương đồng với Nekomata. Tiên ly là loài mèo núi sống lâu thành tinh, có thần thông biến hóa thành mỹ nam mỹ nữ để hút tinh khí của con người.

Tôn giáo, tín ngưỡng
Trên thế giới
Một số tôn giáo cổ tin rằng mèo là những linh hồn cao quý, người bạn đồng hành, hay người hướng dẫn cho con người, và rằng mèo rất thông thái nhưng do không biết nói nên không thể gây ảnh hưởng đến những quyết định của con người. Tại Nhật Bản, tượng mèo Maneki Neko là biểu tượng của sự phú quý, giàu có. Còn ở đạo Hồi tuy không có động vật thần thánh nào, nhưng một vài quyển sách đã ghi lại rằng thánh Muhammad có nuôi một con mèo cưng tên là Muezza. Thánh yêu mèo đến mức "Người thà không mặc áo khoác còn hơn là làm phiền một con mèo đang ngủ trên chiếc áo".

Ở Bắc Âu, Freyja — nữ thần của tình yêu, sắc đẹp và sự sinh sôi trong thần thoại Bắc Âu — được miêu tả là thường cưỡi trên một chiếc xe kéo bởi mèo. Văn hóa dân gian của người Do Thái và nền văn minh Babylon mèo đen là biểu tượng của một con rắn cuộn vào lò sưởi. Ở Scotland, một con mèo đen xuất hiện trên hiên nhà chính là dấu hiệu của sự thịnh vượng sắp đến cho nên vợ của các ngư dân giữ mèo đen trong nhà với niềm tin rằng chúng có thể ngăn chặn mọi điều xấu xảy ra với những người thân yêu của họ khi đang trên biển.

Bên cạnh đó, nhiều nền văn hóa lại có cái nhìn tiêu cực về loài mèo. Điển hình là niềm tin về việc một con mèo đen băng ngang đường người nào đang đi thì người đó sẽ gặp xui xẻo, hoặc chuyện mèo là những phụ tá cho các mụ phù thủy, giúp các mụ gia tăng công lực. Điều này dẫn đến việc lùng diệt mèo rộng khắp châu Âu trong thời trung cổ. Chính việc tiêu diệt mèo đã làm tăng số lượng chuột, góp phần gây ra Cái chết Đen lây lan bởi bọ chét trên người những con chuột bệnh. Việc tàn sát mèo ở Ypres trong thời Trung Cổ nay được tưởng nhớ bằng lễ hội mèo Kattenstoet tổ chức 3 năm một lần.

Ngày trước, Giáo hội Công giáo đôi khi cho rằng mèo là ma quỷ, điềm xui, dù là mèo đen hay mèo trắng thì chúng cũng vậy. Vào thế kỷ XVII, mèo đen là cặp đôi với phù thủy, thay vì được tôn thờ, nó lại trở thành một con vật đáng sợ. Chúng được sử dụng trong những nghi lễ hiến tế như là vật hi sinh. Ở Ai-len, khi một con mèo đen đi qua trước mặt thì có nghĩa rằng bệnh tật sẽ đến. Ở Roma, Moldavia và Cộng hòa Séc, quan niệm một con mèo đen đi ngang qua trước mặt bạn sẽ mang lại điềm xui vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có nhiều người mê tín rằng nếu mèo đen nhảy qua xác một người mới chết, người đó sẽ hóa thành quỷ nhập tràng. Và dân gian vẫn lưu truyền câu tục ngữ: Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang. Dựa theo một bí ẩn trong nhiều nền văn hóa, mèo là loài có nhiều mạng sống. Ở nhiều quốc gia, người ta thường cho rằng mèo có chín mạng, còn tại một số khu vực nói tiếng Tây Ban Nha thì cho rằng mèo có bảy mạng, riêng trong văn hóa Ả rập và Thổ Nhĩ Kỳ, mèo có sáu mạng. Bí ẩn này xuất phát từ sự mềm dẻo và nhanh nhẹn của mèo khi thoát khỏi những tình huống nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Đồng thời còn do mèo thường rơi xuống chạm đất bằng chân, sử dụng phản xạ theo bản năng để điều chỉnh cơ thể nhằm hạn chế chấn thương. Tuy vậy, mèo vẫn có thể bị thương hoặc chết khi rơi xuống từ một độ cao nhất định.

Có giai thoại vui liên quan đến Tú Xuất về mèo, chuyện rằng khi Tú Xuất muốn ăn quỵt tiền của bà chủ quán, khi thấy có con mèo đang quanh quẩn, Tú Xuất liền vuốt ve con mèo, sau đó gọi cô chủ quán bắt chuyện và qua đó khen ngợi con mèo của cô chủ và cho rằng đây là giống mèo rất quý, có khả năng hiểu và nói được tiếng người và còn biết được nhiều chuyện trên đời. Cô chủ không tin và hai người cá cược với nhau rằng nếu Tú Xuất làm cho con mèo nói được thì cô chủ quán sẽ chiêu đãi và không tính tiền cơm đối với Tú Xuất. Xong, Tú Xuất ôm xốc con mèo lên tay, vuốt ve nựng nịu một hồi rồi xách con mèo lên nhìn vào nó và hỏi rằng:

"Này mèo, của cô mày tròn hay méo? "

Miệng vừa hỏi, tay của Tú Xuất vừa cấu vào tai mèo, con mèo đau điếng kêu ré lên:
"Méo..."

Như thể chưa rõ, Tú Xuất tiếp tục vừa cấu mạnh vừa hỏi to: "có thật không, ta hỏi lại lần nữa, "của" cô mày tròn hay méo?", con mèo đau quá kêu ré lên liên hồi: "Méo...Méo...Méo!!!". Mọi người trong quán cười ầm lên, Tú Xuất quay sang nói với cô chủ: "Đúng không cô chủ, méo hay tròn? Con mèo nói có sai không?, vậy đây đúng là con mèo quý nhé". Nói đoạn cảm ơn cô chủ vì bữa ăn và thản nhiên bước đi để lại cô chủ ngượng chín cả mặt.

Trong võ thuật
Mèo cũng là động vật đem lại cảm hứng cho võ thuật với dáng đi uyển chuyển, không tiếng động, êm như mèo, giỏi leo trèo, có khả năng nhảy vọt là nguồn cảm hứng môn khinh công. Mèo có những cú cào, tát với hai bộ móng sắc ra đòn nhanh như chớp là cảm hứng về trảo. Võ mèo hay miêu quyền cũng là một trong những môn võ hay, những động tác mô phỏng của mèo có thể chuyển hóa, phổ quát thành các bài võ, đòn thế tự vệ, chiến đấu hữu hiệu, nhất là trong những tình huống lấy nhu hóa cương do mèo thường đánh nhanh, rút êm, có khả năng quan sát tinh tế, phán đoán linh ứng, phóng cao, chạy nhanh, xoay chuyển cực kỳ linh hoạt, thoắt ẩn thoắt hiện và hết sức uyển chuyển, mềm mại, nhanh nhạy tinh khôn....

Ở Việt Nam, võ mèo xuất hiện rất sớm và bài Miêu tẩy diện (mèo rửa mặt) là một trong những bài võ mèo tồn tại lâu đời với khoảng 32 động tác, được phân thành các thế liên hoàn, biến hóa linh diệu, phối hợp nhịp nhàng giữa bộ tay với bộ chân, mô phỏng theo các đặc tính vốn có của loài linh miêu là hết sức nhẹ nhàng, biến hóa khôn lường, không nghe tiếng động, tựa như chiếc lá đang bay, trong đó có một số động tác mang hình tượng mèo đang rửa mặt. Ngoài ra còn có một số bài võ mèo tiêu biểu như Linh miêu độc chiến và Bạch miêu quyền.

Trong văn hóa hiện đại
Chú mèo được tái hiện trong văn hóa hiện đại với các hình tượng tranh ảnh, hoạt hình, truyện tranh với những chú mèo ngộ nghĩ, đáng yêu như: Mèo Đi-hia, Mèo Kitty (con thú cưng gối đầu của nhiều bạn trẻ), Mèo Tom, chú mèo nổi tiếng trong loạt phim hoạt hình Tom và Jerry của Mỹ, chú Mèo Luna trong Thủy thủ Mặt Trăng. Và đặc biệt là hình tượng chú mèo máy Đô-rê-mon. Bên cạnh đó, ở Nhật Bản, có chú mèo 11 tuổi tên Si-rô-nê-kô chỉ có mỗi đặc điểm là béo và ngủ nhiều nhưng trở nên nổi tiếng toàn cầu bởi những kiểu ảnh ngộ nghĩnh đang lơ mơ ngủ. Riêng trên trang facebook của chú mèo ở Việt Nam đã có tới hơn 100.000 người yêu thích. Những chú mèo trong Gia đình mèo quý tộc....

Con mèo của Schrödinger là một thí nghiệm tưởng tượng nghĩ ra bởi Erwin Schrödinger để cho thấy sự thiếu hoàn hảo của những cách hiểu về cơ học lượng tử vào thời của ông, khi suy diễn từ các hệ vật lý vi mô sang các hệ vật lý vĩ mô. Khi con mèo bị tách rời khỏi mọi nhiễu loạn, trạng thái của con mèo sẽ chỉ có thể biết được ở dạng chồng chập của các trạng thái lượng tử cơ bản (trạng thái riêng). Mỗi khi hệ thống đo đạc muốn xác định trạng thái của con mèo thì hệ thống này đã làm nhiễu loạn trạng thái của mèo; nói cách khác hệ thống đo đạc có vướng víu lượng tử với con mèo.

Grumman F-14 Tomcat (mèo đực) là một loại máy bay siêu âm cánh cụp cánh xòe 2 động cơ 2 chỗ ngồi. Trong suốt thời gian phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ (1972-2006), nó thể hiện là một máy bay chiến đấu vượt trội trên không, dùng vào do thám, ném bom và chặn đánh trên không. Nó được phát triển sau sự sụp đổ của dự án F-111B, nó trở thành dòng đầu tiên trong loạt máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ được phát triển sau những trận không chiến với MiG ở Việt Nam.

Trong các tác phẩm có Bác Fyodor, con chó và con mèo (tiếng Nga: Дядя Фёдор, пёс и кот) là một cuốn tiểu thuyết đồng thoại dành cho thiếu nhi của nhà văn Eduard Uspensky, ra đời năm 1973. Chú Mèo có biệt danh Thủy Thủ lang thang trong nhà.Đây là tác phẩm mà con người và loài vật sống chan hòa. Nơi mèo biết nấu ăn, quạ biết trông nhà, chó biết săn ảnh, còn chiếc máy cày ăn thực phẩm thì biết hát nghêu ngao...

Mèo đi hia (tiếng Anh: Puss in Boots) là một bộ phim hoạt hình 3D năm 2011 được sản xuất bởi DreamWorks Animation, do Chris Miller làm đạo diễn. Có thể nói nó là một phần trong loạt phim Shrek. Phim nói về cuộc đời của Mèo đi hia tên Puss trước khi xuất hiện trong phim Shrek 2 (2004) của chằn tinh Shrek. Câu chuyện kể về cuộc hợp tác của Mèo Puss cùng 2 người bạn là Trứng Humpty Dumpty và Mèo Lông Mượt Kitty Softpaws để chống lại cặp vợ chồng Jack và Jill - 2 kẻ tội phạm gian ác sở hữu đậu thần có thể dẫn đến kho báu khổng lồ.

Mèo Con là một bộ phim hoạt hình của đạo diễn Ngô Mạnh Lân, ra mắt lần đầu năm 1966. Truyện phim phỏng theo truyện ngắn Cái Tết của Mèo Con của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Chuyện phim kể về chú Mèo Con từ lúc còn nhỏ bé, ngây thơ đến khi trưởng thành, đủ sức đánh bại lão Chuột Cống gian ác.

Anime
Ở Nhật Bản trong truyện tranh và hoạt hình còn có hình tượng của những cô Miêu Nhĩ (Nekomimi), đây là một dạng nhân vật nữ mang đôi tai mèo, đuôi mèo, hoặc có những đặc điểm giống như mèo khác. Một nekomimi thường xuất hiện trong anime, manga hoặc trong cosplay or actual body parts, kể cả trong một số game video. đó là hình tượng của những nhân vật (con người) đôi khi được cho "mọc" thêm tai mèo và đuôi mèo nhằm thể hiện tính cách dễ bị kích động của họ, thường kết thúc câu nói của họ bằng tiếng nya, từ tượng thanh của Nhật Bản thể hiện tiếng kêu "meo meo" của loài mèo. Trong thể loại truyện tranh Hentai của Nhật Bản cũng có thể loại về Catgirls (còn được gọi là "nekos" tiếng lóng của Nhật là "mèo"): nhân vật có những bộ phận tương đồng với loài mèo như tai, móng và đuôi, đây là cách trong một số truyện, các nhân vật nữ được phác họa dưới hình dạng những con mèo hoang, với cách ăn mặc hở hang quá mức cùng lối sống bầy đàn với những suy nghĩ không bình thường về sex.

Những miêu nhĩ thường mang những chiếc găng tay ngoại cỡ và những chiếc giày có hình dáng giống bàn chân chó mèo. Đôi khi các nhân vật không mang đôi tai mèo nhưng cách buộc tóc khiến người ta tưởng là có đôi tai mèo trên đầu. Đối với các miêu nhĩ phương Đông, thường các đặc điểm của loài mèo chỉ xuất hiện ở mức tối thiểu, ví dụ như mắt có đồng tử dọc giống mèo, đuôi mèo, tai mèo (thường có màu lông tai khác với màu tóc). Nhiều hình vẽ về miêu nhĩ mang cả tai mèo lẫn tai người, có thể bức hình ám chỉ đôi tai mèo là giả.

Nhân vật truyện tranh Hello Kitty được thể hiện dưới dạng mèo cộc đuôi Nhật Bản như là một biểu tượng của sự dễ thương tròng văn hóa nhạc pop Nhật Bản hiện đại. Nhân vật Muta trong phim hoạt hình Neko no Ongaeshi được xây dựng dựa trên một con mèo hoang loại cộc đuôi Nhật vốn thường lai vãng ở gần Studio Ghibli.

Trong Game Đấu trường đẫm máu có nhân vật Uriko (miêu nữ) là Mèo (nữa thú), đặc trưng với cách chiến đấu: Thiếu lâm Nhật Bản (Kenpo) với các đòn thế của miêu quyền (võ mèo) với đặc trưng là đánh chớp nhoáng bằng những cú cào cấu. Cô là Học sinh bị tập đoàn Tylon đã bắt cóc cô bé khi cô chỉ là một đứa trẻ. Nhưng mẹ của cô là Mitsuko và bạn cô Alice đã giải thoát cô bé khỏi tập đoàn đó. Cô là một cô bé ngây thơ, hồn nhiên và là đệ tử của Shin Long. Một ngày nọ khi đi học về muộn, Uriko chứng kiến mẹ mình bị một nhóm người lạ mặt bắt giữ, cô vội vã đi tìm sự giúp đỡ từ sư phụ là Shin Long.

Comic
Trong văn hóa hiện đại phương Tây có các hình thức miêu nhĩ mang nhiều đặc tính của loài mèo hơn, ví dụ việc toàn bộ cơ thể bao phủ bởi lông mèo và việc mang móng vuốt của mèo là hai đặc điểm nổi bật về diện mạo của miêu nhĩ phương Tây. Các miêu nhĩ châu Âu thường có dạng mèo mang tính thuyết hình người (anthropomorphism). Đồng thời các miêu nhĩ phương Tây cũng thường xuất hiện trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng của phương Tây, hình tượng người mèo (werecat) mới là hình tượng thật sự chiếm ưu thế trong văn hóa đại chúng châu Âu. những người mèo châu Âu chủ yếu là phụ nữ và họ thường mang những đặc tính về ngoại hình và tính cách giống như các miêu nhĩ. Họ thường được thể hiện một cách hiện thực hơn và xuất hiện trong các tác phẩm kinh dị

Một số nhân vật tiêu biểu như nhân vật Cheetara trong loạt phim hoạt hình ThunderCats. Các Fantasy games có các nhân vật miêu nhĩ như Magic: The Gathering (nhân vật Mirri và Purraj) và game d20 Munchkin Monster Manual. Một số phim truyền hình như Teenage Catgirls in Heat, và các truyện tranh và phim hoạt hình kiểu Tây phương cũng có nhiều nhân vật mang các đặc điểm của mèo. Nhân vật Underperson C'Mell (xuất hiện trong tác phẩm Norstrilia và The Rediscovery of Man) của Cordwainer Smith., không xuất hiện trong thế giới manga, anime như các miêu nhĩ. Trong loạt phim khoa học viễn tưởng Doctor Who, có một giáo phái tên là Sisters of Plenitude mang nhiều đặc điểm khá giống với nhân vật Cheetara trong Thundercats, nhưng mang đặc tính "mèo" nhiều hơn là người.

Những chú mèo
Hình ảnh của những con mèo nổi tiếng trong văn hóa đại chúng:
    Mèo Kitty là một biểu tượng văn hóa của đất nước Nhật Bản, cô mèo hiền lành, nhỏ bé, xinh xắn và dễ thương.

    Là nhân vật chính trong câu chuyện cổ tích Chú mèo đi hia nổi tiếng mà trẻ em trên thế giới đều biết

    Chú mèo Maneki neko, chú mèo vẫy tay phải, tượng trưng cho sự may mắn

    Mèo Cheshire là nhân vật trong câu chuyện Alice ở xứ sở thần tiên. Được biết đến với cái miệng rộng ngoác và nụ cười tinh nghịch

    Mèo Felix chính là chú mèo đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh. Cái tên Felix với ý nghĩa là may mắn.

    Chú mèo Garfield là một con mèo mướp màu cam rực rỡ, béo ịch, lười biếng (con mèo lười).

Ngoài ra còn những con mèo khác như:
    Mèo Tom là chú mèo nổi tiếng nhất thế giới, nổi bật là sự hài hước và thú vị của loạt phim Tom và Jerry.
    Chú mèo máy Doraemon hay mèo ú mê ăn bánh rán và sợ chuột, với chiếc túi thần kỳ là người bạn thân thiết của trẻ em Nhật Bản và cả Việt Nam.
    Oggy là một chú mèo béo ú, nhân vật chính của bộ phim Mèo Oggy và những chú gián tinh nghịch. Oggy có một cô bạn gái là Olivia.
    Leopold là nhân vật chính loạt phim hoạt hình của hãng Ekran (từ năm 1975 đến 1993)
    Rokumon là một chú mèo đen phụ tá cho các thần chết trong truyện Rinne - Cảnh giới luân hồi. Các chú mèo dạng như chú làm việc với các thần chết theo một hợp đồng, trong đó chúng hỗ trợ thần chết trong công việc, kiêm nhiệm việc tiêu diệt các linh hồn tà ác; nhưng đồng thời cũng đem lại sự đe dọa, tai ương, điềm gở. Rokumon hình dạng chính: một chú mèo đen với khuôn mặt người, hình dạng một khuôn mặt mèo quỷ khổng lồ để hù dọa người và hình dạng một chú mèo đen dễ thương khi cậu... xin ăn.
    Mèo Luna: một con mèo hoang bị bọn trẻ xấu tính chọc phá, trên trán chú mèo có băng keo dính, đó là một vết sẹo hình lưỡi liềm. Và chú mèo đã tới tìm Usagi và nói với cô rằng nó tên là Luna và đang trên đường tìm kiếm những chiến binh cứu lấy Trái Đất và Mặt Trăng. Luna đã ban phép cho cô trở thành Thủy thủ Mặt Trăng với vũ khí là vương miện Mặt Trăng gắn trên trán.
    Nakano Azusa trong K-ON!, Cô liên tục là nạn nhân bởi các cử chỉ thân thiết thái quá của Yui và có biệt danh là Azu-nyan sau khi thử đeo một đôi tai mèo và kêu meo ("nyan" có nghĩa tương đương với "meow" (tiếng mèo) trong từ vựng tiếng Nhật). Mặc dù vậy, Azusa không thật sự thạo cách chăm sóc và gần gũi với mèo. Azusa có mái tóc dài và đen được thắt thành hai bím. Tuy là một tài năng ghi-ta, cô gặp nhiều rắc rối khi vừa hát vừa chơi đàn, không giống như Yui và Mio.
    Kuroemon: có vẻ bề ngoài khá giống Doraemon trong bộ truyện tranh có liên quan nhưng thay vào đó là toàn thân đen xì mà đặc biệt là cái đuôi có hình lưỡi sét.
    Shiroemon: có vẻ bề ngoài khá giống Doraemon trong bộ truyện tranh có liên quan nhưng không có đường kẻ dọc qua sống mũi và toàn thân trắng tuốt mà đặc biệt là cái đuôi có hình lưỡi sét.
    Shichimi trong Negima!? là biến thành một con mèo, là một nhân vật có lý trí. Trong tác phẩm, tứ chi của cô thường không lộ ra ngoài trừ phi cô đang cầm hay cào vật gì đó. Cô cũng có thể kéo dài cơ thể ra như một con rắn. Với vẻ ngoài "dễ thương" của Shichimi, về sau nhân vật Nodoka thường hay chơi đùa với cô như người chủ chơi đùa với một con mèo. Cô thường xuyên ở trong hình dạng của một con mèo nên cô thường hay kêu thêm tiếng "mya" (Nhật: ミャ?) (phát âm gần giống tiếng kêu meo của loài mèo) vào cuối mỗi câu nói của mình.
    Chobi trong Nàng và Con mèo của Nàng, lời kể chuyện của con mèo về cô chủ của nó, là một chú mèo đực đi lạc ngoài nhà của Nàng. Cậu được Nàng đem về nuôi, yêu thương và Cậu cũng hết mực yêu thương cô chủ, Mimi là một cô mèo nhà hàng xóm của Chobi. Mimi làm bạn gái Chobi vào mùa hè và muốn cưới Chobi nhưng cậu không chịu. Chobi miêu tả cô chủ là người có tấm lòng như một người mẹ và sắc đẹp của một người tình.
    Chobi là một chú mèo được nuôi trong một gia đình 4 người. Trong anime: Loài mèo tập hợp. Tức giận sự thờ ơ của con người, Chobi cùng những con mèo khác tập hợp ban đêm để bày kế trả thù họ.
    Trong Doraemon: Nobita ở vương quốc chó mèo có con mèo Ướt Sũng là một con mèo đang dầm mưa, Nobita nhận nuôi nó, đặt tên cho nó. Sami - một cô mèo vừa xinh đẹp vừa hát hay. Doraemon lao lên sân khấu tặng Sami một chuỗi ngọc trai. Nekojara (Hắc Miu, Hắc Miêu) - hậu duệ của con mèo Ướt Sũng. Với lòng hận thù con người vì đố xử thậm tệ với súc vật, Nekojara bắt cóc bố mẹ của nhóm bạn Hachi và ăn cắp Norazium (nguồn nhiên liệu như dầu thời ấy, ở dạng rắn) để tạo ra cỗ máy thời gian đến tương lai trả thù loài người.
    Một nhân vật Mèo trong bộ phim Hãy đợi đấy!, một chuyên gia trong lĩnh vực ảo thuật. Nó xuất hiện trong vài cảnh biểu diễn xiếc trong 2 tập phim "Trong công viên thành phố" và "Trong rạp xiếc". Con mèo này là một thuật sĩ tốt, nhưng lại rất tự cao và rất thích được tán thưởng (trong một cảnh, nó đã hai lần đánh rơi Sói đang bay lơ lửng vì nó chấp nhận sự vỗ tay tán thưởng của Thỏ).
    Scrapper trong Mr. Bean (phim hoạt hình) là con mèo 1 mắt của bà Wicket. Nó ghét con người, đặc biệt là Mr. Bean dù nó luôn giả vờ tình cảm với chủ của mình. Sở thích của nó là cào cấu, bắt chuột và làm cho Bean lâm vào những tình cảnh kinh khủng với bà Wicket bất cứ khi nào có thể.
    Pidsley là một chú mèo khó chịu trong Shaun the Sheep. Chú luôn muốn mình là con vật được yêu quý nhất của người nông dân, thường xuyên ganh tị với Bitzer và hay tìm cách phá bĩnh những chú cừu.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Trong thành ngữ
Mèo được nhắc nhiều đến trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, ca nhạc. Nó là con vật đóng góp rất nhiều trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, mèo hiện thân của sự thanh cảnh, tao nhã những cũng là kẻ ương ngạnh khi hay ăn vụng, khó bảo. Tục ngữ, ca dao còn để lại nhiều bài học sống sâu sắc từ những câu ca, câu chuyện về mèo và chuyện mèo là chuyện nhân sinh.

Mèo già hóa cáo: ám chỉ sự sống lâu và trở nên tinh ranh.
Mèo con bắt chuột cống: Bản thân mỗi người đều có thể chiến thắng đối thủ lớn hơn mình khi dám dũng cảm đối diện với nó, cũng như họ có thể làm được sự nghiệp lớn.
Mèo nhỏ bắt chuột con
Nam thực như hổ, nữ thực như miu: Chỉ sự thanh cảnh
Ăn nhỏ nhẻ (thỏ thẻ) như mèo
Có ăn nhạt mới thương tới mèo
Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào
Con mèo mà trèo cây cau/Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà/Chú chuột đi chợ đàng xa/Mua mắm, mua muối giỗ cha chú mèo.
Chó treo, mèo đậy
Cơm treo, mèo nhịn đói
Buộc cổ mèo, treo cổ chó
Chỉ chó mắng mèo
Chó giữ nhà, mèo bắt chuột
Chó chê mèo lắm lông
Mèo trắng hay mèo đen miễn là bắt được chuột (Đặng Tiểu Bình)
Tắt đèn thì mèo nào cũng xám (ngạn ngữ phương Tây)
Mèo khóc chuột: Chỉ thái độ giả tạo
Ăn như rồng cuốn/nói như rồng leo/làm như mèo mửa: Chế giễu những người chỉ giỏi nói, ăn khỏe nhưng khi làm việc thì bây beng, không đâu vào đâu.
Mèo mù vớ phải cá rán: châm biếm cho trường hợp gặp may bất ngờ đạt được cái hoàn toàn ngoài khả năng của mình
Như mèo thấy mỡ
Mỡ treo miệng mèo
Mở đến miệng mèo còn không hưởng
Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt
Giấu như mèo giấu cứt
Im ỉm như mèo ăn vụng
Rửa mặt như mèo: Chê tính cẩu thả, hời hợt, làm việc ẩu, không đến nơi đến chốn
Mèo mả gà đồng: Câu ví với hạng người lăng nhăng, sống đầu đường, xó chợ, ăn chơi đàng điếm và đáng khinh.
Mèo hoang lại gặp chó hoang/anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai
Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang
Như chó với mèo: Chỉ sự xung đột ra mặt, không hòa thuận
Mèo khen mèo dài đuôi
Mèo lại hoàn mèo
Không chó bắt mèo ăn cứt
Võ công mèo cào (quào): Chế diễn các đòn tấn công yếu ớt
Chó gio, mèo mù
Con mèo lười
Con mèo hen: Chỉ cơ thể yếu ớt hay ốm đau
Tuổi Mão, là con mèo ngoao/Hay quấu hay quào, ăn vụng quá tinh.
Con mèo, con méo, con meo/Muốn ăn thịt chuột thì leo xà nhà
Mèo lành ai nỡ cắt tai, gái kia chồng rẫy khoe tài làm chi?
Mèo lành chẳng ở mả, ả lành chẳng ở hàng cơm
Vợ phải rẫy tiu nghỉu như mèo lành mất tai
Yêu nhau như chó với mèo.

mèo,con mèo,mèo nhà,mèo hoang,mèo rừng,mèo mướp,mèo đen,mèo rửa mặt,mèo kitty,mèo đi hia,mèo tom,mèo doremon,mèo doraemon,mèo luna,mèo ba tư,chó treo mèo đậy,như mèo thấy mỡ,mèo lại hoàn mèo,yêu nhau như chó với mèo,ghét nhau như chó với mèo,chó chê mèo lắm lông,rửa mặt như mèo,các loài mèo,mèo già hóa cáo,thành ngữ về mèo,mão,miêu,felis catus,cat

Mèo hoang
Mèo hoang hay còn gọi là mèo mả, là những con mèo nhà đã trở lại sống trong môi trường tự nhiên. Chúng có thể là những con mèo nhà đi hoang hoặc bị chủ bỏ rơi; hoặc là những con mèo thuộc giống mèo nhà nhưng sinh ra, lớn lên hoàn toàn trong môi trường "hoang".

Trong nhiều trường hợp, những con mèo hoang có xuất thân là con cháu của những con mèo nhà bị các du khách bỏ lại tại địa phương. Mèo vốn không phải là loài bản địa trên tất cả các vùng miền của thế giới, vì vậy khi đi hoang chúng có thể gây hại cho hệ sinh thái của tự nhiên do việc ăn thịt các loài bản địa; nhất là trên các đảo khi những con mèo hoang đôi khi trở thành nhân tố cực kì có hại đối với quần thể động vật bản địa.

Hành vi, thái độ của mèo hoang
Từ "feral" trong tiếng Anh dùng để ám chỉ các loài thú vật không có thái độ thân thiện khi gặp người; thuật ngữ này cũng được áp dụng đối với các con thú nuôi trong nhà nhưng không tiếp xúc với người. Rõ ràng, những con mèo hoang thường tỏ thái độ không thân thiện khi gặp người, tỉ như các hành động kiểu tự vệ như kêu rít, xù lông, gầm gừ; tuy nhiên các thái độ này sẽ dần dần thay đổi khi các con mèo hoang bắt đầu quen với những người tới chăm sóc cho nó. Thực tế cho thấy những con mèo vốn quen sống hoang dã vẫn có thể được thuần hóa, với điều kiện là nó phải được thuần trước khi các hành vi "hoang" thực sự ăn sâu bám rễ. Các hành vi này thật ra đã bắt đầu được hình thành khi mèo con còn đang được dạy dỗ bởi mèo mẹ.

Sống sót ở môi trường hoang dã
Các thú nuôi như chó và mèo vốn phụ thuộc vào con người nên chúng không có khả năng tự trụ vững lâu dài trong môi trường tự nhiên. Tuổi thọ trung bình của một con mèo hoang - nếu như nó không bị chết yểu - là 2 năm đối với những con mèo sống đơn độc và 5 năm đối với những con mèo sống theo đàn. Một số ý kiến khác cho ra con số trung bình 4,7 năm, với dao động từ 0-8,3 năm tuổi, một nghiên cứu khác nữa thì cho khoảng dao động là 2-8 năm. Ngược lại, mèo đực sống trong nhà có thể thọ 12-14 tuổi, còn mèo cái thì thọ hơn 1-2 năm so với mèo đực. Một con mèo nhà được chăm sóc kỹ lưỡng có tuổi thọ trung bình lên đến 15-22 năm. Phần lớn những con mèo nhà nhưng không được sống trong nhà sẽ chết vì đói, khát, bệnh tật, các loài ký sinh hoặc các loài ăn thịt chúng.

Thời tiết cũng là một mối đe dọa đối với mèo hoang. Mèo vốn rất nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ. Thân nhiệt của một con mèo dao động từ 38,2 đến 39,2 độ bách phân (tức 100,5-102,5 độ F). Mèo cũng không đổ mồ hôi được như người, nó phải liếm ướt bộ lông như một cách bốc thoát hơi nước trong lúc trời nóng. Hàng năm rất nhiều mèo hoang cũng như mèo nhà nhưng nuôi ngoài trời bị chết vì chứng thân nhiệt cao hay giảm thế nhiệt.

Lịch sử
Trong Thời kỳ khám phá, người ta thường hay thả thỏ xuống các hòn đảo xa xôi để dùng chúng làm nguồn cung cấp thức ăn cho khách qua đường. Tuy nhiên lũ thỏ này lại sinh sôi nảy nở quá mức và thế là mèo lại được thả lên để ăn thịt bớt chúng, cũng như kiềm chế số lượng chuột. Có điều những con mèo lại tỏ ra ưa thích các loài động vật bản địa vì về phương diện sinh thái chúng tỏ ra ngây thơ hơn và dễ bị săn bắt hơn. Cuối cùng quần thể loài mèo tăng chóng mặt và chúng bắt đầu được xem là loài gây hại.

Theo các nguồn tài liệu sử học, những con mèo hoang bắt đầu xuất hiện ở Úc từ khoảng năm 1824. Mặc dù vậy, có ý kiến cho rằng mèo hoang đã xuất hiện ở tiểu lục địa này từ trước khi người Châu Âu có mặt; chúng có thể được mang tới đây khi các xác tàu đắm của Hà Lan dạt đến khu vực này vào thế kỷ thứ 17; hoặc thậm chí từ thời kỳ sớm hơn khi những người đánh cá thuộc tộc Macassa ở Indonesia tiếp xúc với lục địa Úc hoặc trong những chuyến cập bến thường xuyên của những tay săn hải sâm.

Thức ăn và thiên địch
Mèo hoang ở Úc săn bắt nhiều loại động vật hoang dã khác nhau. Ở các khu vực khô cằn và bán khô cằn, nạn nhân của chúng thường là thỏ và chuột nhà; ở các khu rừng hoặc đô thị, chúng ăn thịt các loài thú có túi (dựa trên 22 nghiên cứu của Dickman năm 1996). Ở những nơi khô cằn nhưng không có thỏ, các loài gặm nhấm bản địa trở thành vật thế thân. Chim và bò sát cũng là một nguồn thức ăn của mèo hoang.

Mèo hoang có thể là loài thú ăn thịt đứng ở vị trí đầu bảng trong chuỗi thức ăn ở một số địa phương. Ở những nơi khác, chúng có thể là con mồi của chó hoang, chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ, chó sói, gấu, báo sư tử, linh miêu Mỹ, linh miêu, fishers, cá sấu, rắn, và các loài chim ăn thịt.

Ảnh hưởng đối với môi trường tự nhiên
Ảnh hưởng của việc mèo nhà xâm nhập vào thế giới tự nhiên là vấn đề gây tranh cãi suốt một thế kỷ. Một bản báo cáo năm 1916 của Ủy ban Nông nghiệp bang Massachusetts mang tên The Domestic Cat: Bird Killer, Mouser and Destroyer of Wildlife (tạm dịch Mèo nhà: Sát thủ của chim, chuột và là Kẻ hủy diệt của tự nhiên) trích dẫn ý kiến của nhà điểu cầm học Edward Howe Forbush như sau:
"Những câu hỏi về sự hữu dụng hay vô ích của mèo nhà, và vấn đề liên quan đến việc hạn chế phần nào các hoạt động ngoài trời của chúng đang gây chia rẽ rất lớn. Cuộc tranh cãi đã đi đến giai đoạn quyết liệt. Các nhà y học, những người kiểm lâm và những người yêu chim đang yêu cầu các nhà lập pháp ban hành những đạo luật hạn chế. Những người yêu mèo cuồng nhiệt cũng khích động nhau tham gia vào cuộc đấu tranh. Trước sự kích thích của óc bè phái những lời phát ngôn thiếu nghiêm túc và thiếu kiềm chế đã được nói ra".
— Edward Howe Forbush

Bản báo cáo này dựa vào tác phẩm Extinct Birds (tạm dịch: Những loài chim đã bị tuyệt chủng) xuất bản năm 1905 bởi nhà động vật học Walter Rothschild, người đã tuyên bố rằng, "con người và các tùy tùng của họ, mèo, chuột, chó, heo là những thứ tệ hại nhất và trên thực tế là nhân tố quan trọng duy nhất gây ra sự hủy diệt của các loài chim tại bất cứ đâu mà họ tới." Rothschild đã đưa ra một số ví dụ về việc mèo đã hây ra sự tuyệt diệt của một số loài chim trên các đảo.

Mèo hoang cũng bị nhiều nông dân và nhiều người kiểm lâm xem là loài có hại. Các tổ chim nằm gần mặt đất thường là mục tiêu của chúng, tỉ như là tổ của các loài gà lôi và gà gô. Những người coi rừng thường đặt bẫy hay thậm chí bắn hạ những con mèo hoang mon men lại gần khu vực họ canh giữ.

Úc
Mèo hoang ở Úc là nguyên nhân gây ra sự suy giảm hoặc tuyệt chủng của các quần thể sinh vật bản địa trên các đảo - nguyên do là chúng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến các loài chim sống gần mặt đất hay các loài thú nhỏ bản địa. Chúng cũng là nhân tố gây cản trở lớn đối với các nỗ lực tái định cư cho các loài vật đang bị đe dọa tuyệt chúng ở những khu vực mà các quần thể của chúng từng sinh sống trước kia - nguyên do là càc loài vật này sẽ bị các con mèo hoang ăn thịt khi chúng vừa mới được thả ra môi trường tự nhiên. Nhiều nhà môi trường học Úc cho rằng mèo hoang là một thảm họa sinh thái đối với nước Úc; chúng sinh sống trong mọi hệ sinh thái ngoại trừ rừng mưa nhiệt đới, và chúng cũng góp phần làm tuyệt chủng nhiều loài thú nhau và thú có túi. Cũng có nhà nghiên cứu không đồng tình với cách nhìn nhận này (Abbot 2002); một số ý kiến khác cho rằng hiện có ít bằng chứng mạnh cho thấy mèo hoang gây nhiều ảnh hưởng đến các sinh vật bản địa ở lục địa, chúng chỉ có ảnh hưởng nghiêm trọng tại các khu vực đảo (Jones 1989; Wilson et al. 1992). Những khó khăn trong việc tách bạch các hậu quả của mèo hoang với một "kẻ xâm lược" khác là cáo cũng góp phần cản trở sự tiến triển của các nghiên cứu này. Mèo đã cùng tồn tại với các loài thú khác ở Tasmania gần 200 năm. Một chương trình nhằm bảo vệ các loài động vật bản địa mang tang tên Lá chắn phương Tây (Western Shield) - bao gồm việc tiêu diệt cáo trên quy mô lớn - đã giúp nhiều loài động vật bản địa được phục hồi nhanh chóng bất chấp sự tồn tại của mèo hoang tại các khu vực bảo vệ. Tuy nhiên, một nghiên cứu xuất bản vào năm 2005 lần đầu tiên cho thấy nhửng bằng chứng về việc mèo hoang gây ra sự suy giảm đối với các loài bản địa. Một thí nghiệm tổ chức ở Heirisson Prong (Tây Úc) đã so sánh số lượng các loài bản địa ở ba khu vực nhỏ, trong đó một khu vực đã được tiêu trừ cáo và mèo, một khu vực đã tiêu trừ cáo và một khu vực để nguyên dùng làm đối chứng. Kết quả cho thấy ở khu vực chỉ tiêu trừ cáo và khu vực đối chứng số lượng sinh vật bản địa vẫn thấp hơn.

Mèo cũng có thể đóng một vai trò trong hệ sinh thái ở Úc trong tương lai khi chúng cùng với cáo sẽ kiềm chế sự phát triển của thỏ nhất là ở khu vực có khí hậu khô; tuy nhiên bản thân chúng cũng gây ra những tác hại đến môi trường. Mèo được tin rằng là nhân tố gây ra sự tuyệt diệt của vẹt thiên đường, loài chim duy nhất bị tuyệt chủng từ khi người châu Âu đặt chân đến Úc.

Một số tin đồn rằng một số con mèo hoang sống ở Úc trở nên to lớn tới mức một số người quan sát ít kinh nghiệm đã lầm tưởng chúng với báo sư tử hoặc các loài tương tự. Thông tin này phần nào có vẻ đúng sự thật hơn là hư cấu vì gần đây một con vật to lớn thuộc họ Mèo vừa bị bắn tại khu vực Gippsland của Victoria. Cuộc thử nghiệm ADN sau đó cho thấy con vật này thuộc loài mèo nhà Felis silvestris catus. Những thông tin sau đó về sự xuất hiện của những con mèo hoang to lớn gần như mỗi tháng ở Úc cùng những bằng chứng cho thấy có tồn tại những quần thể của giống mèo khổng lồ này ở Đông Nam Victoria và New South Wales.

New Zealand
Hệ động vật ở New Zealand đã tiến hóa hàng triệu năm với sự vắng mặt của các loài động vật có vú (ngoại trừ một vài loài dơi). Vì vậy, các loài chim đã thay thế vai trò vốn có của động vật có vú trong các quần xã khác; thậm chí nhiều loài chim ở khu vực này không thể bay. Sự xâm nhập của động vật có vú sau khi người Māori định cư ở đây từ thế kỷ thứ 12 đã gây ra ảnh hưởng to lớn đến sự đa dạng sinh học của khu vực. Tiếp đó những người Châu Âu đã đem mèo đến New Zealand và sự hiện diện của mèo hoang được ghi nhận vào những thập niên cuối thế kỷ 19. Theo các ước tính cho thấy mèo là thủ phạm góp phần gây ra sự tuyệt diệt của 6 loại chim đặc hữu, hơn 70 phụ loài địa phương cùng với sự suy giảm nghiêm trọng của các quần thể chim và bò sát.

Các khu vực đảo
Hậu quả
Nhiều khu vực đảo có các loài động vật mang đặc tính ngờ nghệch sinh thái; tức chúng không có phản ứng tự vệ cần thiết trước các loài ăn thịt như mèo. Mèo hoang khi được du nhập vào các khu vực này sẽ gây ra ảnh hưởng tai hại đến sự đa dạng sinh học tại đó. Chúng có liên quan tới sự tuyệt chủng của một số loài sinh vật và sự tuyệt diệt tại địa phương của một số loài khác, ví dụ như của loài hutia ở vùng Caribe, chim hải âu petrel đảo Guadalupe ở vùng biển của México tại Thái Bình Dương, loài hồng tước đảo Stephens; theo một nghiên cứu thống kê mèo hoang là thủ phạm chính gây ra sự tuyệt chủng cho 40 phần trăm số loài được nghiên cứu. Theo Moors và Atkinson viết năm 1984: "Không có loài ăn thịt du nhập nào khác có thể gây ra hậu quả ở quy mô phổ biến như vậy."

Mèo hoang, cùng với thỏ, một số loài chim biển, và cừu tạo nên quần thể động vật gần như là duy nhất ở quần đảo Kerguelen tại miền nam Ấn Độ Dương.

Phục hồi các loài bản địa
Trước những hậu quả do mèo gây ra đổi với hệ sinh thái trên các đảo và một số nơi khác, nhiều nhà bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực phục hồi sinh thái trên đảo đã thực thi công việc loại bỏ mèo hoang ra khỏi khu vực này. Cho đến năm 2004, mèo hoang đã bị loại trừ ở 48 đảo, trong số đó có cả hệ thống các đảo ngoài khơi xa của New Zealand được quy định là nơi bảo tồn các loài chim, cùng với đảo Macquarie của Úc. Các dự án quy mô lớn hơn cũng được tiến hành, bao gồm dự án loại trừ mèo ra khỏi đảo Ascension. Khi được du nhập vào đảo ở thế ký 19 mèo đã gây ra sự sụt giảm mạnh của các quần thể chim biển làm tổ tại đây. Dự án được bắt đầu từ năm 2002 và đến năm 2004 mèo đã bị loại trừ khỏi đảo. Kể từ đó, 7 loài chim biển vốn biến mất khỏi đảo trong vòng 100 năm đã xuất hiện trở lại.

Tuy nhiên việc loại trừ mèo trong một số trường hợp cũng gây ra những hậu quả phụ khôn lường, ví dụ như ở đảo Macquarie (ngoài khơi Tasmania) sự vắng bóng của mèo đã khiến cho bọn chuột và thỏ hoành hành và gây hại cho các loài chim biển bản địa. Thế là việc diệt trừ thỏ và chuột lại được lên lịch vào năm 2007, dự kiến quá trình này sẽ kéo dài bảy năm và ngốn mất 24 tỉ đô la.

Lai giống tự nhiên với mèo rừng và các loài thú họ mèo
Mèo hoang đã giao phối với các loài mèo rừng trên thế giới, trường hợp đầu tiên được ghi nhận xảy ra cách nay hơn 200 năm. Mức độ lai giống này vẫn đang bị tranh cãi, sự tranh cãi này phụ thuộc vào việc mèo nhà được coi là một loài riêng biệt so với mèo rừng hay cùng loài với mèo rừng.(xem thêm ô nhiễm di truyền) Ở một số khu vực, mức độ lai giống cao đã gây ra nhiều khó khăn cho việc phân biệt mèo rừng, mèo hoang với mèo lai được thuần hóa; điều này khiến cho công tác bảo tồn trở nên phức tạp. Một số nhà nghiên cứu cho rằng mèo rừng thuần chủng không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ý kiến khác không đồng tình với luận điểm này. Một nghiên cứu ở Tô Cách Lan cho rằng mặc dù mèo rừng thuần chủng ở Tô Cách Lan nhiều khả năng không còn tồn tại; quần thể mèo rừng hiện tại của nước này có sự khác biệt lớn với mèo nhà, mèo hoang và vì vậy chúng đáng được bảo vệ.

Vật trung gian truyền bệnh
Có những ý kiến lo ngại về vai trò của các quần thể mèo hoang chó hoang và nhiều loài thú bản địa khác trong việc làm vật trung gian truyền bệnh cho người và động vật, ví dụ như bệnh nhiễm giun Toxoplasma gondii, bệnh sốt hải ly do nhiễm ký sinh trùng roi Giardia lamblia (chủ yếu lây từ hải ly), bệnh dại (ví dụ lây từ gấu trúc Bắc Mỹ), ngộ độc do xoắn khuẩn Campylobacter, bệnh do Parvovirus cùng nhiều loại bệnh và ký sinh trùng khác. Các thú họ mèo thí dụ như báo sư tử và báo, các sinh vật mà chúng ăn, thịt nấu chưa chín kỹ và gà là những nguồn lây lan loài giun Toxoplasma gondii.

Quần thể mèo hoang
Số lượng
Thuật ngữ đàn mèo hoang được sử dụng chủ yếu ám chỉ một nhóm mèo hoang sống cùng với nhau trong một khu vực nhất định và sử dụng chung một nguồn thực phẩm. Thuật ngữ này không áp dụng cho những con mèo hoang sống đơn độc tại khu vực đó. Một đàn mèo có thề có "dân số" từ 3-5 con cho tới khoảng 100 con. Khu vực sinh sống của các đàn mèo cũng khá đa dạng, một số đàn mèo sống lẩn trốn trong các ngõ hẻm hay ở các công viên lớn.

Thành viên của các đàn mèo bao gồm các con cái trưởng thành, con của chúng và một số con đực trưởng thành. Những con đực trưởng thành (nếu chưa bị thiến) sẽ đánh nhau để tranh giành con cái và lãnh địa. Một số sẽ bị trục xuất khỏi đàn và buộc phải tìm nơi khác để sinh sống.

Mèo hoang ở các khu vực ấm có bọ chét sinh sống thường bị ký sinh bởi rất nhiều bọ chét và nhiễm chứng thiếu máu gây ra bởi việc này. Bọ chét và nguồn thức ăn nếu chủ yếu nằm trong các rác thải sẽ khiến mèo hoang nhiễm phải các vi sinh vật đường ruột (tỉ như trùng cầu coccidia hay trùng roi giardia) cùng các sinh vật ký sinh khác (giun tròn, giun dẹp, giun móc), khiến mèo bị tiêu chảy và mất nước. Chúng cũng có thể nhiễm phải ve ở tai, nhiễm bệnh ecpet mảng tròn và nhiễm trùng đường hô hấp trên. Một số khác chết vì nhiễm trùng bởi các vết thương khi đánh nhau giành bạn tình. Chúng cũng có thể nhiễm phải bệnh bạch cầu mèo và virus suy giảm miễn dịch ở mèo qua đường máu và đường truyền chất dịch cơ thể thông qua quá trình giao phối hay qua các vết thương lúc đánh nhau.

Trong khi tất cả các chứng bệnh kể trên đều có thể chữa được, chúng yêu cầu phải có sự can thiệp của người để ngăn chặn các chứng bệnh này trở nặng. Thực tế đôi khi mèo con trong các đàn mèo bị chết yểu do hệ thống miễn dịch của chúng còn non nớt trước nhiều vấn đề về miễn dịch mà chúng phải đối mặt trong môi trường sống.

Quản lý quần thể mèo
Trong chương trình Bẫy-Thiến-Thả (Trap-Neuter-Return, TNR), những người tình nguyện sẽ đánh bẫy bắt các con mèo hoang, sau đó triệt sản chúng bằng cách thiến rồi thả chúng trở lại ra ngoài tự nhiên; mặc dù trong một số trường hợp những con mèo dễ được thuần hóa hoặc những con mèo con có thể được giữ lại nuôi. Nội dung của chương trình đôi khi cũng có thể bao gồm việc thử nghiệm và tiêm chủng mèo chống lại các virus gây một số bệnh như dại hay chữa trị và ngăn ngừa các loại ve, bọ chét ký sinh trên cơ thể mèo hoang. Chương trình Bẫy-Thiến-Thả hiện chỉ mới được thực hiện ở một số khu vực đô thị và ngoại ô, tỉ như Adelaide. Gần đây những chương trình tương tự cũng được thực hiện ở Sydney bởi một tổ chức mang tên "Liên đoàn Bảo vệ Động vật Thế giới". Trong khi nhiều nghiên cứu lâu dài về Bẫy-Thiến-Thả cho thấy chương trình tỏ ra hiệu quả trong việc ngăn chặn quá trình sinh sản ở mèo hoang và làm giảm số lượng mèo hoang theo thời gian, những người phản đối chương trình này thường dẫn lấy một nghiên cứu năm 2003 của Castillo cho thấy chương trình không có hiệu quả. Nhiều tổ chức nhân đạo và tổ chức giải cứu động vật trên khắp Hoa Kỳ cũng thực hiện một số chương trình Bẫy-Thiến-Thả. Chương trình được xác nhận bởi Hội Nhân đạo Hoa Kỳ và Hội Liên hiệp Quản lý Động vật Quốc gia. Trong khi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ không chính thức ủng hộ Bẫy-Thiến-Thả, họ cũng cung cấp thông tin cho quân đội về cách thực hiện chương trình. Thông điệp chính của Bộ là quá trình quản lý số lượng động vật phải được thực hiện một cách nhân bản.

Ở các đảo, nơi hiệu ứng chân không không được áp dụng, các biện pháp mang tính tiêu diệt như săn bắt, đánh bẫy, đánh bả và sử dụng thiên địch được áp dụng. Ví dụ như trên đảo Marion mèo hoang bị cho lây nhiễm virus feline panleukopenia, virus này khiến quần thể mèo sụt giàm trầm trọng chỉ trong vòng 6 năm. Số còn lại bị tiêu diệt bởi săn bắt. Quần thể mèo hoang có thể bị kiểm soát bởi các loài thú ăn thịt lớn hơn như chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ hay chó hoang dingo vì mèo hoang có kích thước quá nhỏ để tự bảo vệ chúng trước các kẻ thù này.

Những quần thể mèo được quản lý sinh sống ở đấu trường Colosseum, Roma có số lượng hơn 250 con. Một số quần thể mèo có quy mô lớn khác như Quần thể mèo ở đồi Nghị Viện Canada hay quần thể mèo ờ Jerusalem.

Lamcanh.vn

Bình luận

*
*
* Kích chuột vào hình bên cạnh để lấy mã kiểm tra ( Kích chuột vào hình để lấy mã kiểm tra )

Bình luận trên facebook

scroll top